Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô tăng khoảng 1% do ngày càng có nhiều dấu hiệu chứng tỏ xuất khẩu dầu thô của Iran sụt giảm trước khi lệnh trừng phạt của Mỹ trong bối cảnh một phần tại khu vực vùng Vịnh Mexico phải ngưng sản xuất do cơn bão Michael. Kết thúc phhiên giao dịch, dầu Brent Biển Bắc tăng 1,3% (1,09 USD) lên 85 USD/thùng, dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 0,9% (0,67 USD) lên 74,96 USD/thùng.
Các nhà sản xuất tại vùng vịnh Mexico ngày 9/10 đã cắt giảm khoảng 40% hoạt động sản xuất do bão Michael đã tiến gần bờ biển Florida.
Số liệu từ công ty Refinitiv Eikon chuyên theo dõi hoạt động tàu thuyền cho thấy, xuất khẩu dầu thô của Iran, nước sản xuất lớn thứ ba trong Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), trong tuần đầu tiên của tháng 10 tiếp tục giảm do các khách hàng tìm kiếm nguồn thay thế trước khi lệnh trừng phạt của Mỹ có hiệu lực vào ngày 4/11 tới. Iran đã xuất khẩu 1,1 triệu thùng dầu thô/ngày trong tuần đầu tiên của tháng 10, giảm so với con số 2,5 triệu thùng/ngày hồi tháng Tư, trước khi Tổng thống Mỹ Donald Trump rút Washington ra khỏi thỏa thuận hạt nhân đã ký với Iran năm 2015, đồng thời tái áp đặt các lệnh trừng phạt. Con số trên cũng thấp hơn so với mức 1,6 triệu thùng/ngày trong tháng Chín.
Tuần trước, Saudi Arabia, nước sản xuất lớn nhất trong OPEC, cho biết sẽ tăng sản lượng dầu thô lên mức cao kỷ lục 10,7 triệu thùng/ngày vào tháng 11 tới. Tuy vậy, Bộ trưởng Dầu mỏ Iran Bijan Zanganeh ngày 8/10/2018 khẳng định Saudi Arabia không thể thay thế Iran trên thị trường dầu mỏ.
Giá khí đốt tự nhiên của Mỹ đã tăng lên mức cao nhất 8 tháng trong hai phiên giao dịch đầu tuần do dự báo thời tiết lạnh hơn dự kiến trong 2 tuần tới và sản xuất giảm nhẹ do cơn bão Michael đang tới gần. Thời tiết lạnh sẽ khiến người tiêu dùng sử dụng nhiều khí đốt hơn bình thường để sưởi ấm, sẽ khiến kho dự trữ nhiên liệu giảm trước khi mùa đông bắt đầu.
Đầu phiên, giá khí đốt giao tháng 11/2018 trên sàn New York tăng 6,1 cent, tương đương 1,9%, lên mức 3,328 USD/mmBtu, mức cao nhất kể từ tháng 29/1/2018. Cuối phiên, giá giảm nhẹ xuống mức 3.266 USD/ mmBtu.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng biến động nhẹ trong bối cảnh đồng USD mạnh lên và triển vọng tăng lãi suất ở Mỹ bất chấp các thị trường chứng khoán giảm điểm.
Giá vàng giao ngay vững ở mức 1.188,2 USD/ounce, vàng giao sau tăng 0,24% lên 1.191,5 USD/ounce.
Người phụ trách mảng giao dịch kim loại tại High Ridge Futures David Meger nhận định cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc và việc các thị trường chứng khoán biến động là các yếu tố hỗ trợ, nhưng khả năng Mỹ tăng lãi suất lại tác động tới giá kim loại quý này. Lãi suất cao hơn thúc đẩy đồng bạc xanh và lợi suất trái phiếu Mỹ đi lên, tạo sức ép lên vàng qua việc làm tăng chi phí nắm giữ tài sản không sinh lời này. Đồng USD hiện tăng lên mức “đỉnh” trong bảy tuần so với các đồng tiền chủ chốt khác nhờ lợi suất trái phiếu Mỹ cao.
Chứng khoán Mỹ phiên này giảm điểm sau khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho biết cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung sẽ gây hại cho tăng trưởng toàn cầu, và tổ chức này đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu lần đầu tiên kể từ năm 2016.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 0,4% lên 14,4 USD/ounce phiên này, giá bạch kim cũng tăng 0,4% lên 820,65 USD/ounce. Trong khi giá palladium hạ 0,4% xuống mức 1.070,5 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá kẽm tại Thượng Hải tăng gần 4% lên mức cao nhất 3,5 tháng, do sản xuất cắt giảm tại các lò luyện kim Trung Quốc đã gây giảm dự trữ kẽm xuống mức thấp nhất trong hơn một thập kỷ qua. Dự trữ kẽm tại kho giao dịch Thượng Hải đạt 29.204 tấn vào cuối tháng 9/2018, mức thấp nhất kể từ năm 2007.
Giá kẽm giao tháng 11/2018 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải tăng 3,8% lên 22.800 CNY(3,295 USD)/tấn, cao nhất kể từ ngày 19/6/2018, chốt phiên tăng 3% lên 22.620 CNY/tấn.
Giá kẽm tại LME cũng tăng cao do dự trữ giảm gây lo ngại thiếu hụt nguồn cung. Giá kẽm kỳ hạn 3 tháng tại sở giao dịch LME đóng cửa tăng 2,4% lên 2.678 USD/tấn. Dự trữ kẽm tại LME giảm xuống dưới 200.000 tấn so với mức 250.000 tấn trong tháng 8 và đang ở mức thấp nhất trong 10 năm.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 12/2018 tăng 1,3 US cent tương đương 1,2% lên 1,1315 USD/lb, mức tăng mạnh nhất kể từ cuối tháng 6/2018. Robusta giao tháng 11/2018 tăng 9 USD tương đương 0,5% lên1.693 USD/tấn.
Việt Nam đã xuất khẩu 1,795 triệu tấn (29,9 triệu bao) cà phê trong niên vụ 2017/18, tăng 12,3% so với niên vụ trước.
Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) ước tính dư cung cà phê toàn cầu niên vụ 2017/18 sẽ đạt 2,58 triệu bao, so với mức thiếu hụt 3,56 triệu bao công bố trước đây.
Với mặt hàng đường, giá đường thô giao tháng 3/2018 tăng 0,03 US cent tương đương 0,2% lên 12,97 US cent/lb, đường trắng giao tháng 12/2018 tăng 3,2 USD tương đương 0,9% lên 353,4 USD/tấn.
Giá ngô và đậu tương giảm do USD tăng giá, khiến các sản phẩm này kém cạnh tranh trên các thị trường xuất khẩu. Song đà giảm giá bị kìm chế do mưa ở các vùng Trung Tây nước Mỹ đe dọa làm chậm vụ thu hoạch, giảm chất lượng cây trồng và đồng real Brazil tăng giá sau khi ứng cử viên tổng thống Jair Bolsonaro dẫn đầu trong vòng bỏ phiếu đầu tiên.
Giá đậu tương giảm 6-3/4 cent xuống còn 8,63 USD/bushel, trong khi giá ngô tháng 12/2018 giảm 2 cent xuống còn 3.64-1/2 USD/ bushel.
Giá cao su tham khảo tại Tokyo đã tăng lên mức cao nhất 1 tuần sau 3 ngày nghỉ lễ ở Nhật Bản, nhờ giá tăng tại Thượng Hải và giá dầu cao.
Cao su kỳ hạn tháng 3/2019 tại Tokyo chốt phiên tăng 2,6 JPY, tương đương 1,5%, đạt 172,0 JPY(1,52 USD)/kg. Cao su kỳ hạn tháng 1/2019 tại Thượng Hải tăng 440 CNY lên 12.750 CNY(1.842 USD)/tấn.Giá cao su TSR 20 giao tháng 4/2019 mở cửa ở mức 163,5 JPY (1,44 USD)/kg và đóng cửa ở mức 160 JPY, giảm 2,1%.
Cao su kỳ hạn tháng 11/2018 tại sàn giao dịch SICOM của Singapore chốt phiên ở mức 134,2 US cent/kg, tăng 1,2 cent.

Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

74,71

-0,25

-0,33%

Dầu Brent

USD/thùng

84,88

-0,12

-0,14%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

56.760,00

+210,00

+0,37%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,31

+0,04

+1,35%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

207,10

-0,64

-0,31%

Dầu đốt

US cent/gallon

242,04

-0,34

-0,14%

Dầu khí

USD/tấn

745,50

+0,75

+0,10%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

73.610,00

+290,00

+0,40%

Vàng New York

USD/ounce

1.193,60

+2,10

+0,18%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.317,00

-2,00

-0,05%

Bạc New York

USD/ounce

14,43

+0,03

+0,17%

Bạc TOCOM

JPY/g

52,20

-0,10

-0,19%

Bạch kim

USD/ounce

825,58

+0,29

+0,04%

Palađi

USD/ounce

1.074,06

+3,21

+0,30%

Đồng New York

US cent/lb

281,20

+0,55

+0,20%

Đồng LME

USD/tấn

6.292,00

+114,00

+1,85%

Nhôm LME

USD/tấn

2.056,00

-11,00

-0,53%

Kẽm LME

USD/tấn

2.678,00

+63,00

+2,41%

Thiếc LME

USD/tấn

18.990,00

+90,00

+0,48%

Ngô

US cent/bushel

364,75

+0,25

+0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

517,50

+2,50

+0,49%

Lúa mạch

US cent/bushel

285,25

-0,75

-0,26%

Gạo thô

USD/cwt

10,93

-0,02

-0,23%

Đậu tương

US cent/bushel

862,50

-0,50

-0,06%

Khô đậu tương

USD/tấn

318,00

+0,20

+0,06%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,25

-0,01

-0,03%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

499,80

+0,20

+0,04%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.119,00

+33,00

+1,58%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

113,15

+1,30

+1,16%

Đường thô

US cent/lb

12,97

+0,03

+0,23%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

142,40

-2,70

-1,86%

Bông

US cent/lb

76,64

-0,37

-0,48%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

349,00

-4,50

-1,27%

Cao su TOCOM

JPY/kg

171,90

-0,10

-0,06%

Ethanol CME

USD/gallon

1,32

0,00

-0,30%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg