Trên thị trường năng lượng, giá dầu đảo chiều giảm sau khi nỗi lo ngại về cháy rừng ở Canada lắng dịu lại.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) kỳ hạn giao tháng 6 tại New York giảm 1,22 USD xuống 43,44 USD/thùng. Tại thị trường London của Anh, giá dầu Brent Biển Bắc giao tháng 7/2016 giảm 1,74 USD xuống 43,63 USD/thùng.
Các báo cáo được công bố cho thấy rằng những mối nguy do cháy rừng tại Canada đang giảm, ít nhất ở thời điểm hiện tại.
Chuyên gia Tim Evans thuộc tổ chức Citi Futures cho biết hoạt động sản xuất dầu cát tại tỉnh bang Alberta của Canada, ước khoảng 1 triệu thùng mỗi ngày, hiện vẫn tạm ngừng sau khi vùng này phải đối phó với vụ cháy rừng lớn nhất và đợt sơ tán lớn nhất trong lịch sử tỉnh bang. Tuy nhiên, hãng tư vấn Genscape công bố số liệu rằng lượng dầu lưu kho tại Cushing, Oklahoma, trong tuần qua tăng 1,4 triệu thùng.
Ngoài ra, tuy nguồn cung dầu của Mỹ từ Canada có thể tổn thất 14 triệu thùng, song Goldman Sachs dẫn số liệu của Bộ Năng lượng Mỹ lưu ý rằng lượng dầu lưu kho của Mỹ hiện đạt trên 543 triệu thùng, nên chưa có gì phải lo ngại.
Câu hỏi hiện nay là về tốc độ phục hồi sản xuất của các công ty dầu mỏ tại Canada ngay khi cháy rừng được kiểm soát, nhưng nhiều nhà phân tích cho rằng còn quá sớm để đưa ra câu trả lời.
Các nhà đầu tư cũng đang theo dõi động thái mới đầy bất ngờ tại Saudi Arabia khi Bộ trưởng Năng lượng Ali al-Naimi, người vốn đảm nhận vị trí này trong hai thập niên qua, bị cách chức và được thay thế bởi Chủ tịch kiêm tổng giám đốc của tập đoàn dầu mỏ quốc gia (Aramco) Khalid al-Falih.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng cũng giảm, với mức giảm mạnh nhất trong gần 7 tuần khi USD mạnh lên.
Giá vàng giao ngay giảm 1,9% xuống 1.263,93 USD/ounce. Giá vàng giao tháng 6/2016 giảm 27,4 USD, tương ứng 2,1%, xuống 1.266,6 USD/ounce.
Giá vàng quay đầu giảm mạnh sau khi chấm dứt chuỗi giảm 4 ngày hôm thứ Sáu 6/5 khi báo cáo việc làm cho thấy số việc làm mới nền kinh tế Mỹ tạo ra trong tháng 4/2016 ở mức thấp nhất 7 tháng qua, khiến một số nhà kinh tế học dự đoán Fed chỉ nâng lãi suất một lần trong năm nay.
Yên Nhật giảm giá so với USD khi Nhật Bản phát tín hiệu sẵn sàng can thiệp vào thị trường tiền tệ, trong khi đó, giá dầu giảm cũng khiến chứng khoán đi xuống.
Dự trữ vàng của Trung Quốc tính đến cuối tháng 4/2016 đạt 58,14 triệu ounce, tăng so với 57,79 triệu ounce hồi cuối tháng 3/2016, theo số liệu của Ngân hàng trung ương Trung Quốc (PBOC).
Giá vàng đã tăng 19% kể từ đầu năm đến nay do đồn đoán Fed giảm lộ trình nâng lãi suất trong năm nay.
Trong số các kim loại quý khác, giá bạc giao ngay giảm 3,2% xuống 16,90 USD/ounce, giá bạch kim giảm 3,6% xuống 1.036,35 USD/ounce và giá palladium giảm 5,3% xuống 575,08 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê biến động trái chiều. Tại London, robussta giảm 5-14 USD/tấn trong khi tại New York, arabica tăng 1,7-1,95 cent/lb.
Xuất khẩu cà phê của Colombia trong tháng 4/2106 đạt 906.000 bao, giảm 21.000 bao, tương ứng 2,27%, so với tháng 4/2015. Xuất khẩu cà phê trong 7 tháng đầu niên vụ 2015-2016 đạt 7.662.000 bao, tăng 782.000 bao, tương đương 11,37%, so với cùng kỳ năm trước.
Theo báo cáo của Liên đoàn Cà phê Colombia, sản lượng cà phê của nước này trong tháng 4/2016 đạt 1.043.000 bao, tăng 119.000 bao, hay 12,88%, so với cùng kỳ năm ngoái. Sản lượng cà phê của nước này trong 7 tháng đầu niên vụ 2015-2016 (tháng 10/2015 - tháng 9/2016) đạt 8.363.000 bao, tăng 1.220.000 bao, hay 17,08%, so với cùng kỳ năm trước.

Giá hàng  hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

43,44

-1,22

-1,60%

Dầu Brent

USD/thùng

43,63

-1,74

-1,25%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

28.310,00

-1.320,00

-4,45%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,10

0,00

-0,14%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

144,44

+0,17

+0,12%

Dầu đốt

US cent/gallon

128,39

-0,24

-0,19%

Dầu khí

USD/tấn

381,50

-1,25

-0,33%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

39.650,00

-1.280,00

-3,13%

Vàng New York

USD/ounce

1.265,70

-0,90

-0,07%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.381,00

-28,00

-0,64%

Bạc New York

USD/ounce

16,97

-0,12

-0,70%

Bạc TOCOM

JPY/g

58,80

-1,10

-1,84%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.041,90

-2,95

-0,28%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

581,25

-2,85

-0,49%

Đồng New York

US cent/lb

210,40

-0,25

-0,12%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

4.686,00

-124,00

-2,58%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.561,00

-37,00

-2,32%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

1.835,00

-53,00

-2,81%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

17.205,00

-215,00

-1,23%

Ngô

US cent/bushel

369,50

+0,50

+0,14%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

457,25

+0,75

+0,16%

Lúa mạch

US cent/bushel

186,75

-2,75

-1,45%

Gạo thô

USD/cwt

11,22

-0,19

-1,71%

Đậu tương

US cent/bushel

1.025,00

-1,50

-0,15%

Khô đậu tương

USD/tấn

339,90

+0,20

+0,06%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32,71

-0,12

-0,37%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

514,60

-1,50

-0,29%

Cacao Mỹ

USD/tấn

3.079,00

+5,00

+0,16%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

126,45

+1,95

+1,57%

Đường thô

US cent/lb

15,88

+0,14

+0,89%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

141,05

+0,45

+0,32%

Bông

US cent/lb

61,52

+0,19

+0,31%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

313,90

+10,00

+3,29%

Cao su TOCOM

JPY/kg

179,30

-1,40

-0,77%

Ethanol CME

USD/gallon

1,50

-0,02

-1,06%