Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng sau báo cáo cho thấy lượng dầu thô dự trữ của Mỹ giảm nhiều hơn dự kiến giúp thị trường giảm bớt quan ngại về sự dư thừa nguồn cung trên toàn cầu.
Đóng cửa phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 9/2017 trên sàn New York tăng 0,39 USD lên 49,56 USD/thùng, dầu Brent giao tháng 10/2017 trên sàn London tăng 0,56 USD lên 52,70 USD/thùng.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết dự trữ dầu thô của Mỹ giảm nhiều hơn dự đoán trong tuần trước giữa bối cảnh lượng dầu nhập khẩu đi xuống trong khi các nhà máy lọc dầu tăng cường công suất, trái ngược với đà tăng bất ngờ trong dự trữ xăng. Dự trữ dầu của Mỹ ở mức 478,4 triệu thùng trong tuần trước, giảm 7,8 triệu thùng, so với con số dự đoán giảm 2,7 triệu thùng mà giới phân tích đưa ra.
Báo cáo của EIA cũng cho thấy tốc độ tăng số giàn khoan ở Mỹ trong tháng trước ở mức thấp nhất kể từ khi cơ quan này bắt đầu thu thập số liệu tháng 6/2016. Ngoài ra, một số công ty Mỹ gần đây giảm chi cho đầu tư trong những tháng cuối năm nay cho thấy “tốc độ tăng sản lượng khai thác dầu ở Mỹ có thể chậm lại”.
Sau cuộc họp kéo dài hai ngày tại Abu Dhabi, UAE, OPEC cho biết các nhà sản xuất dầu mỏ toàn cầu ngày 8/8 khẳng định tiếp tục giữ vững cam kết cắt giảm sản lượng, hy vọng mức độ tuân thủ sẽ cao hơn.
OPEC cùng với Nga và các nước sản xuất dầu mỏ khác đang thực hiện việc cắt giảm sản lượng gần 1,8 triệu thùng/ngày cho đến tháng 3/2018 để giải quyết tình trạng dư cung và đẩy giá lên. Tuy nhiên, theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), các nước thành viên OPEC là Iraq và Các Tiểu Vương quốc A rập Thống nhất (UAE) có mức độ tuân thủ tương đối thấp, trong khi các nước ngoài OPEC là Kazakhstan và Malaysia đang tăng sản lượng trong vài tháng qua. Điều này làm gia tăng quan ngại về khả năng thực thi nghiêm túc thỏa thuận cắt giảm sản lượng.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng lên mức cao nhất gần 2 tháng do căng thẳng leo thang ở bán đảo Triều Tiên.
Giá vàng giao ngay tăng 1,25% lên 1.275,98 USD/ounce, sau khi có lúc chạm 1.276,10 USD/ounce - mức cao nhất kể từ giữa tháng 6/2017 đến nay, vàng giao tháng 12/2017 tăng 1,3% lên 1.279,30 USD/ounce. Giá bạc tăng 2,8% lên 16,87 USD/ounce, hướng tới mức tăng trong ngày mạnh nhất kể từ tháng 9/2016. Còn giá bạch kim cũng tăng 0,6% lên 972,90 USD/ounce.
Phiên trước đó, giá vàng đã giảm xuống mức thấp nhất trong hai tuần sau số liệu về việc làm tốt hơn dự kiến của Mỹ, trong lúc các nhà đầu tư chờ đợi số liệu về lạm phát mà Mỹ sẽ công bố vào cuối tuần này để có thể dự đoán lộ trình tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Trên thị trường kim loại cơ bản, giá nhôm tăng mạnh. Tại London, nhôm lên mức cao nhất hơn 2 năm do dự báo Trung Quốc cắt giảm công suất sản xuất hơn nữa để làm trong sạch môi trường.
Tại sàn giao dịch kim loại London, giá nhôm đạt mức 2.043 USD/tấn- ngưỡng đỉnh kể từ tháng 10/2014. Giá đồng đạt mức cao nhất kể từ tháng 12/2014 là 6.515 USD/ounce trước khi giảm nhẹ xuống còn mức 6.509 USD/ounce.
Chiều qua tại Thượng Hải, giá nhôm và đồng tăng lên mức cao nhất trong vòng 5 năm do nhà đầu tư tăng cường mua do lo ngại thiếu cung.
Tại Thượng Hải, giá nhôm đạt ngưỡng cao nhất trong vòng 5 năm là 16.330 RMB (nhân dân tệ)/tấn (tương đương 2.436 USD/tấn) trước khi giảm nhẹ xuống còn 16.215 RMB/tấn. Lợi nhuận gia tăng lên 1/3 kể từ đầu tháng 8 và đạt gần mức kỷ lục tháng 12/2015. Giá đồng đạt mức cao nhất trong hơn 4 năm lên 51.090 RMB/tấn.
Đợt tăng giá này đã giúp cải thiện triển vọng về kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế Trung Quốc nói riêng. Đồng thời, thị trường dự đoán nguồn cung than và nhôm Trung Quốc sẽ bị thắt chặt do nước này đang nỗ lực làm sạch môi trường trong mùa đông sắp tới.
Mới đây, chính quyền tỉnh Sơn Đông đã yêu cầu các nhà máy có sản lượng nhôm lớn nhất thế giới cắt giảm năng suất 3,21 triệu tấn. Đây là mức cao hơn so kỳ vọng trước đó.
Hôm thứ 3 Bộ Thương mại Mỹ vừa công bố quyết định chính thức về việc đánh thuế đối với sản phẩm giấy bạc nhập khẩu từ Trung Quốc với tỷ lệ từ 16,5% đến 81%, tùy vào mức độ trợ cấp giá mà các nhà sản xuất nhận được từ chính phủ Trung Quốc.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica lên mức cao nhất gần 4 tháng rưỡi, trong khi đường thô giảm phiên thứ 7 liên tiếp.
Arabica giao tháng 9 giá giảm 0,1 US cent xuống 0,07% vào lúc đóng cửa, xuống 1,4265 USD/lb, trong phiên có lúc giá chạm 1,4372 USD, mức cao nhất 4 năm rưỡi.
Robusta giao cùng kỳ hạn giá giảm 28 USD tương đương 1,3% xuống 2.136 USD/tấn.
Nhu cầu robusta nhìn chung yếu và nhà đầu tư không sẵn sàng trả giá cao hơn.
Đối với mặt hàng đường, giá đườn thô giao tháng 10 giảm 0,14 US cent tương đương 1% xuống 13,64 US cent/lb, trong phiên có lúc giá giảm xuống 13,59 US cents, thấp nhất kể từ 13/7.
Đường trắng giao tháng 10 giá giảm 2,6 USD tương đương 1,1% xuống 2.005 USD/tấn, trong phiên có lúc giá chỉ 1.983 USD/tấn, thấp nhất kể từ 27/7.
Giá hàng hóa thế giới

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

49,56

+0,39

+0,22%

Dầu Brent

USD/thùng

52,70

+0,56

+0,46%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

35.420,00

+360,00

+1,03%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,88

0,00

-0,10%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

162,41

+0,41

+0,25%

Dầu đốt

US cent/gallon

165,33

0,00

0,00%

Dầu khí

USD/tấn

487,00

+4,75

+0,98%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

49.910,00

+320,00

+0,65%

Vàng New York

USD/ounce

1.281,60

+2,30

+0,18%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.503,00

+38,00

+0,85%

Bạc New York

USD/ounce

16,87

+0,01

+0,04%

Bạc TOCOM

JPY/g

59,50

+1,00

+1,71%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

973,90

-1,55

-0,16%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

893,95

+2,67

+0,30%

Đồng New York

US cent/lb

292,95

+0,25

+0,09%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.455,00

+25,00

+0,39%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.027,50

+2,50

+0,12%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.931,50

+6,50

+0,22%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.205,00

-5,00

-0,02%

Ngô

US cent/bushel

385,50

-0,75

-0,19%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

486,25

-0,50

-0,10%

Lúa mạch

US cent/bushel

276,25

+0,75

+0,27%

Gạo thô

USD/cwt

12,23

-0,08

-0,69%

Đậu tương

US cent/bushel

974,50

+1,25

+0,13%

Khô đậu tương

USD/tấn

312,90

0,00

0,00%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,54

+0,01

+0,03%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

509,60

-1,60

-0,31%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.005,00

-23,00

-1,13%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

142,65

-0,10

-0,07%

Đường thô

US cent/lb

13,64

-0,14

-1,02%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

133,45

+1,90

+1,44%

Bông

US cent/lb

71,10

-0,01

-0,01%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

368,00

0,00

0,00%

Cao su TOCOM

JPY/kg

215,60

+0,20

+0,09%

Ethanol CME

USD/gallon

1,59

0,00

-0,19%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg