Trên thị trường năng lượng, giá dầu ngọt nhẹ (WTI) giảm trong khi dầu Brent tăng. Kết thúc phiên, WTI giảm 0,21 USD xuống 67,54 USD/thùng, trong khi đó dầu Brent Biển Bắc tăng 0,54 USD lên 77,37 USD/thùng, sau khi có lúc chạm mức cao nhất trong phiên là 77,92 USD/thùng.
Đầu phiên giao dịch, dầu WTI được hỗ trợ sau khi công ty dịch vụ năng lượng Baker Hughes cho biết các công ty năng lượng Mỹ đã giảm 2 giàn khoan trong tuần qua xuống còn 860 giàn. Tuy nhiên, lượng dầu thô dự trữ của Mỹ đang tăng lên.
Trong khi đó, giá dầu Brent được hậu thuẫn bởi giới đầu tư dự đoán nguồn cung sẽ giảm một khi các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với hoạt động xuất khẩu dầu của Iran có hiệu lực từ tháng 11 tới. Dù nhiều nước nhập khẩu dầu từ Iran đã lên tiếng phản đối đối với lệnh trừng phạt của Mỹ, nhưng hầu như không nước nào tỏ ra sẵn sàng chống đối lại Washington.
Harry Tchilinguirian, chuyên gia phân tích dầu tại ngân hàng BNP Paribas của Pháp dự báo giá dầu sẽ tăng trong bối cảnh xuất khẩu thấp hơn từ Iran do sự trừng phạt của Mỹ, hạn chế tăng trưởng sản lượng đá phiến của Mỹ, bất ổn trong sản xuất ở các nước như Libya và Venezuela và không có tác động tiêu cực từ cuộc chiến thương mại Mỹ- Trung Quốc đối với nhu cầu dầu trong 6 đến 9 tháng tới. Giá dầu Brent sẽ được giao dịch trên 80 USD/thùng.
Mỹ hiện đang gây áp lực buộc các quốc gia phải cắt giảm nhập khẩu từ Iran, đồng thời thúc giục các nhà sản xuất khác tăng sản lượng để giữ giá. Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Rick Perry dự kiến sẽ gặp các đối tác Saudi Arabia và Nga trong tuần này nhằm khuyến khích các nhà sản xuất và xuất khẩu lớn nhất thế giới tiếp tục sản xuất.
Giá khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) giao ngay trên thị trường Châu Á tăng cao trong tuần qua do nhu cầu tiêu thụ mạnh trong vùng trước mùa đông và nhiều thiên tai bất thường trong khu vực, đặc biệt là động đất tại Nhật Bản- thị trường tiêu thụ LNG lớn nhất thế giới, gây mất điện tồi tệ nhất trong nhiều năm. Giá LNG giao tháng 10/2018 tại Châu Á tăng lên 11,55 USD/mmbtu trong tuần qua, tăng 5 cent so với tuần trước đó, đạt mức cao nhất 4 năm. Giá còn được hỗ trợ bởi giá dầu thô tăng cao giữa tuần qua do bão tràn vào bờ Vịnh Gulf Coast của Mỹ.
Nhu cầu tiêu thụ khí ga vẫn vững do khách mua Châu Á đang chuẩn bị cho mùa đông, để tránh lập lại như năm ngoái khi nhiệt độ giảm bất thường gây tăng giá. Nhật Bản đã phải hứng chịu những đợt nắng nóng chưa từng có trong mùa hè vừa qua khiến dự trữ cạn kiệt, do vậy dự trữ sẽ phải gây dựng lại vào mùa đông này. Như vậy khối lượng nhập khẩu trong tháng 9/2018 có thể sẽ cao hơn cùng kỳ năm ngoái.
Giá than cốc tại Trung Quốc đóng cửa tăng 3% đạt 1.320 CNY/tấn sau khi đạt mức cao nhất 2 tuần là 1.321,50 CNY/tấn trong ngày.Việc đóng cửa một số nhà máy luyện than ở Lvliang thuộc tỉnh Shanxi của Trung Quốc nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường đã làm giảm nguồn cung than cốc, nhà phân tích Helen Lau của Argonaut Securities cho biết. Trong khi đó, các nhà máy than cốc cần bổ sung thêm kho dự trữ vì sản lượng thép vẫn còn mạnh. Nhu cầu tiêu thụ mạnh trong nước dự kiến sẽ kích thích nhập khẩu than cốc và giá sẽ tăng cao hơn nữa.
Ngân hàng đầu tư Seaport Global của Mỹ dự báo giá than cốc sẽ tăng trong năm 2020 và 2021 do nguồn cung thắt chặt hơn trong dài hạn. Nguồn cung đặc biệt khan từ Mỹ do nhu cầu yếu và các rào cản hạn chế khai thác mỏ.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng trước kỳ vọng thỏa thuận Brexit sớm đạt được sẽ thúc đẩy đồng bảng Anh và đồng euro lên giá so với đồng USD.
Giá vàng giao ngay tăng 0,1% lên 1.195,91 USD/ounce, vàng giao tháng 12/2018 đạt 1.199,80 USD/ounce.
Trưởng đoàn đàm phán Brexit của Liên minh châu Âu (EU) Michel Barnier ngày 10/9/2018 cho biết có thể đạt được một "thỏa thuận ly hôn" với nước Anh trong vòng từ 6-8 tuần tới. Ngay sau khi ông Barnier đưa ra thông tin trên, giá trị của đồng bảng Anh đã tăng khoảng 1% lên mức 1 bảng đổi được 1,3052 USD và tăng khoảng 0,5% so với đồng euro.
Kể từ đầu năm tới nay, giá vàng đã giảm hơn 8%, do thị trường lo ngại về tranh chấp thương mại, sự yếu đi của đồng nội tệ tại các thị trường mới nổi và lộ trình nâng lãi suất tại Mỹ, khiến đồng USD lên giá. Đồng USD mạnh lên khiến vàng trở nên đắt đỏ hơn đối với những khách hàng sở hữu các đồng tiền khác.
Giới chuyên gia nhận định giá vàng đã chịu sức ép giữa bối cảnh các nhà đầu tư tìm đến đồng USD như một kênh trú ẩn an toàn trước tình hình căng thẳng thương mại. Ngày 7/9, ông Trump cho biết sẵn sàng áp thuế bổ sung đối với hầu hết hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Phát biểu trước báo giới tại thành phố Fargo, bang Bắc Dakota, Tổng thống Trump nhấn mạnh “có thêm lượng hàng hóa trị giá 267 tỷ USD nhập khẩu từ Trung Quốc sẵn sàng bị xem xét áp thuế nếu tôi muốn".
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 0,5% lên 14,17 USD/ounce, giá bạch kim tăng 0,6% lên 783,49 USD/ounce, giá palađi giảm 0,3% xuống 977,50 USD/ounce.
Đối với kim loại công nghiệp, giá thép kỳ hạn Trung Quốc tăng lên mức cao nhất 2 tuần qua, ngày tăng thứ ba liên tiếp do những hạn chế sản xuất nhằm kiểm soát ô nhiễm tại thành phố sản xuất thép Tangshan. Tuần trước, Tangshan cho biết sẽ mở rộng kế hoạch cắt giảm sản xuất thép, than cốc và điện tới tháng 9/2018. Giá thép cây giao tháng 1/2019 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải tăng lên mức 4.299 CNY(627 USD)/tấn, mức cao nhất kể từ ngày 27/8/2018, trước khi chốt phiên tăng 1,8% lên 4.284 CNY.
Trước khi cắt giảm sản xuất và mùa tiêu thụ đỉnh cao trong tháng này, các nhà máy thép đã đẩy mạnh sản xuất. Sản lượng thép thô trung bình hàng ngày tại các nhà máy thành viên của Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc đạt 1,92 triệu tấn từ 21/8 đến 31/8/2018, tăng 0,3% so với thời điểm từ 11đến 20/ 8.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 12/2018 giảm 1,2 US cent tương đương 1,2% xuống 1,0125 USD/lb, vẫn quanh mức thấp nhất 12 năm; robusta giao tháng 11/2018 giảm 14 USD tương đương 0,9% xuống 1.477 USD/tấn. Xuất khẩu từ Việt Nam – nước sản xuất cà phê robusta lớn nhất thế giới, trong tháng 8/2018 đạt 153.000 tấn, tương đương 2,55 triệu bao loại 60 kg.
Giá đường thô kỳ hạn trên sàn ICE tăng lên mức cao nhất 7 tuần do thị trường đã chạm đáy sau một đợt giảm kéo dài đã thúc đẩy hoạt động mua vào. Giá đường thô kỳ hạn tháng 10 tăng 0,19 cent, tương đương 1,7%, đạt 11,2 cent/lb sau khi chạm mức cao nhất trong 7 tuần là 11,27 cent. Đường trắng kỳ hạn tháng 12 tăng 2,30 USD, tương đương 0,7%, đạt mức 334,20 USD/tấn.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo ổn định vào cuối phiên giao dịch sau khi giảm vào phiên sáng do các yếu tố cơ bản yếu tiếp tục đè nặng lên giá và lo ngại cuộc chiến thương mại Mỹ- Trung leo thang. Giá cao su kỳ hạn giao tháng 2/2019 tại Tokyo chốt phiên ở mức 165,9 JPY(1,49 USD)/kg. Giá hợp đồng cao su kỳ hạn tại Thượng Hải giao tháng 1/2019 tăng 80 CNY (11,67 USD) lên mức 12,405 CNY/tấn. Giá cao su tại Singapore giao tháng 10/2018 chốt phiên ở mức 131,4 cent Mỹ/kg, giảm 0,3 cent.

Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

67,61

+0,07

+0,10%

Dầu Brent

USD/thùng

77,49

+0,12

+0,16%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

50.320,00

+210,00

+0,42%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,81

+0,00

+0,14%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

196,10

+0,18

+0,09%

Dầu đốt

US cent/gallon

222,04

+0,26

+0,12%

Dầu khí

USD/tấn

682,75

-1,25

-0,18%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

68.640,00

+290,00

+0,42%

Vàng New York

USD/ounce

1.199,20

-0,60

-0,05%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.264,00

+24,00

+0,57%

Bạc New York

USD/ounce

14,18

0,00

-0,01%

Bạc TOCOM

JPY/g

50,70

+0,40

+0,80%

Bạch kim

USD/ounce

786,21

-0,34

-0,04%

Palađi

USD/ounce

977,62

-2,22

-0,23%

Đồng New York

US cent/lb

262,80

0,00

0,00%

Đồng LME

USD/tấn

5.910,00

-23,00

-0,39%

Nhôm LME

USD/tấn

2.095,00

+25,00

+1,21%

Kẽm LME

USD/tấn

2.381,00

-39,00

-1,61%

Thiếc LME

USD/tấn

19.005,00

-50,00

-0,26%

Ngô

US cent/bushel

368,50

+1,25

+0,34%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

529,75

+1,50

+0,28%

Lúa mạch

US cent/bushel

252,75

+1,25

+0,50%

Gạo thô

USD/cwt

10,91

-0,01

-0,09%

Đậu tương

US cent/bushel

848,00

+2,75

+0,33%

Khô đậu tương

USD/tấn

319,50

+0,90

+0,28%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,31

-0,05

-0,18%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

496,30

-0,40

-0,08%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.300,00

+41,00

+1,81%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

101,25

-1,20

-1,17%

Đường thô

US cent/lb

11,20

+0,19

+1,73%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

158,60

+1,80

+1,15%

Bông

US cent/lb

83,79

-0,06

-0,07%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

383,30

+0,80

+0,21%

Cao su TOCOM

JPY/kg

165,90

0,00

0,00%

Ethanol CME

USD/gallon

1,29

0,00

-0,15%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg