Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm xuống mức thấp nhất hơn 2 tuần trong bối cảnh thị trường chứng khoán giảm điểm và dự trữ dầu thô của Mỹ tăng mạnh hơn dự kiến.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ (WTI) giảm 2,2 USD (3,01%), xuống 70,97 USD/thùng, chạm mức thấp nhất kể từ ngày 21/9; dầu Brent Biển Bắc cũng giảm 2,83 USD (3,41%), xuống 80,26 USD/thùng, sau khi có lúc xuống chỉ 79,80 USD/thùng, thấp nhất kể từ ngày 24/9.
Sắc đỏ trên thị trường chứng khoán Mỹ và xu hướng đầu tư an toàn trên toàn lan rộng trên toàn cầu cũng gây sức ép cho giá dầu. Phiên 10/10/2018, chỉ số S&P 500 và Dow Jones đồng loạt chứng kiến mức giảm theo ngày mạnh nhất trong tám tháng qua.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho hay, dự trữ dầu thô của nước này tăng 6 triệu thùng trong tuần trước (kết thúc ngày 5/10), cao hơn gấp đôi dự báo của giới phân tích là chỉ tăng 2,6 triệu thùng. Điều này cho thấy các nhà máy lọc dầu nước này vẫn tiếp tục hạn chế hoạt động sản xuất để bảo dưỡng định kỳ.
Tổ chức Các nước xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) vừa hạ dự báo về nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ toàn cầu trong năm 2019, đánh dấu lần cắt giảm dự báo trong tháng thứ ba liên tiếp. OPEC cho rằng, những ‘làn gió ngược” mà kinh tế thế giới đang phải đối mặt như tranh chấp thương mại và sự bất ổn của các thị trường mới nổi là nhân tố chính tác động xấu tới nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ.
Thêm vào đó, thị trường “vàng đen” còn bị ảnh hưởng bởi việc sản lượng dầu tại Vịnh Mexico của Mỹ giảm 40% trong ngày 11/10/2018 do tác động của cơn bão Michael.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng do chứng khoán giảm điểm. Vàng giao ngay tăng 2,6% lên 1.225,26 USD/ounce, sau khi có thời điểm chạm mức cao nhất kể từ ngày 31/7 là 1.226,27 USD/ounce; vàng giao sau tăng 34,20 USD hay 2,87% lên 1.227,60 USD/ounce.
Giới phân tích nhận định rằng phiên này, giá vàng đã bứt ra khỏi biên độ dao động hẹp mà nó “mắc kẹt” suốt hơn một tháng qua và tiếp tục thu hút giới đầu tư mua vào, khi chứng khoán Mỹ nới rộng đà giảm sang phiên thứ sáu liên tiếp sau khi chứng khoán châu Âu rơi xuống mức thấp của 21 tháng, cho thấy tâm lý e ngại rủi ro đang gia tăng trên các thị trường toàn cầu.
Trong khi đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày thứ hai liên tiếp chỉ trích Cục Dự trữ Liên bang Mỹ,khi cho rằng chính sách nâng lãi suất của ngân hàng này là “nực cười”. Hồi tháng trước, Fed đã nâng lãi suất lần thứ ba trong năm nay và được dự đoán sẽ tăng thêm một lần nữa vào tháng 12 tới.
Giá vàng đã giảm hơn 10% so với mức cao ghi nhận hồi tháng Tư, khi giới đầu tư có xu hướng tìm đến đồng USD làm “lá chắn” trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ-Trung gia tăng trong khi lãi suất của Mỹ cũng liên tiếp được nâng lên.
Lượng vàng do quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust nắm giữ đã tăng 1,2% lên 738,99 tấn trong ngày 11/10/2018, lần tăng đầu tiên kể từ tháng Bảy và cũng là đợt tăng lớn nhất từ tháng Ba năm nay.
Cũng trong phiên này, giá bạc tăng hơn 2% lên 14,56 USD/ounce, trong khi giá bạch kim tăng 2,5% và được giao dịch ở mức 839,74 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá thép xây dựng của Trung Quốc cuối phiên qua giao dịch tăng nhẹ sau khi giảm mạnh vào phiên sáng do kế hoạch cắt giảm sản lượng của Trung Quốc trước mùa đông.
Giá thép xây dựng kỳ hạn giao sau tại Thượng Hải giảm 2,1% xuống còn 3.958 CNY(571,12 USD)/tấn vào đầu phiên, sau đó đóng cửa tăng 0,3% lên 4.056 NDT/tấn. Giá thép cuộn cán nóng giảm 3% xuống còn 3.831 NDT vào phiên sáng sau đó chốt phiên tăng 1% lên 3.909 CNY/tấn.
Giá quặng sắt tại Đại Liên chốt phiên giảm 0,5% xuống còn 511,5 CNY/tấn, sau khi tăng 62,9 USD lên mức 70,9 USD phiên liền trước.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô giao tháng 3/2019 tăng 0,07 US cent tương đương 0,5% lên 12,92 US cent/lb, đường trắng giao tháng 12/2018 tăng 6,4 USD tương đương 1,8% lên 362,90 USD/tấn.
Cà phê arabica giao tháng 12/2018 trên sàn New York tăng 1 US cent tương đương 0,9% lên 1,129 USD/lb, robusta giao tháng 1/2019 trên sàn London tăng 1 USD tương đương 0,1% lên 1.699 USD/tấn.
Hoạt động bán cà phê tại Việt Nam và Indonesia tăng trong tuần này nhờ giá thế giới tăng, trong khi vụ thu hoạch chính được chờ đợi vào tháng tới tại Việt Nam. Các nhà xuất khẩu đã cung cấp cà phê đen loại 2 vỡ 5% của Việt Nam với mức chênh lệch giá là 50 - 60 USD/tấn so với hợp đồng tháng 1/2019 của London, cao hơn so với mức giảm giá 30- 40 USD vào tuần trước.
Nông dân Tây Nguyên đã chào bán cà phê với giá 36.500 đồng (1,56 USD)/kg, tăng mạnh so với 34.000 - 34.400 đồng trong tuần trước. Giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 1/2019 tại Luân Đôn đã tăng 112 USD trong một tuần lên 1.698 USD vào ngày 10/10/2018. Thời tiết ở Tây Nguyên thuận lợi trước vụ thu hoạch lớn của Việt Nam đến vào đầu tháng tới, sau nhiều tuần mưa kéo dài gây lo ngại về chất lượng cà phê và vụ thu hoạch.
Tại Indonesia, mức chênh lệch giá cà phê robusta loại 4, 80 hạt vỡ giảm xuống còn 30 USD/tấn so với hợp đồng tháng 1/2019, giảm mạnh so với mức 70 USD trong tuần trước do giá thế giới tăng mạnh.
Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) đầu tuần này đã thay đổi dự báo của họ từ thâm hụt cà phê toàn cầu 3,56 triệu bao trong vụ 2017/2018 sang thặng dư 2,58 triệu bao. ICO cũng nâng dự báo sản lượng cà phê toàn cầu trong năm 2017/18 lên 164,81 triệu bao 60 kg so với mức dự báo trước đó là 158,56 triệu bao, và nâng sản lượng cà phê robusta toàn cầu lên 62,99 triệu bao từ 61,40 triệu bao.
Việt Nam xuất khẩu 1.795 triệu tấn (29.9 triệu bao 60 kg) cà phê trong niên vụ 2017/18, tăng 12,3% so với niên vụ trước, số liệu hải quan cho thấy đầu tuần này.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

70,97

-2,2

-0,01%

Dầu Brent

USD/thùng

80,26

-2,83

-3,41%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

53.710,00

-710,00

-1,30%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,24

+0,02

+0,56%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

193,50

+0,23

+0,12%

Dầu đốt

US cent/gallon

233,39

+0,17

+0,07%

Dầu khí

USD/tấn

718,25

-3,25

-0,45%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

70.300,00

-760,00

-1,07%

Vàng New York

USD/ounce

1.221,70

-5,90

-0,48%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.386,00

+94,00

+2,19%

Bạc New York

USD/ounce

14,55

-0,06

-0,38%

Bạc TOCOM

JPY/g

52,60

+1,10

+2,14%

Bạch kim

USD/ounce

837,78

-3,16

-0,38%

Palađi

USD/ounce

1.077,68

-2,14

-0,20%

Đồng New York

US cent/lb

278,65

-1,65

-0,59%

Đồng LME

USD/tấn

6.242,00

+3,00

+0,05%

Nhôm LME

USD/tấn

2.020,00

-27,00

-1,32%

Kẽm LME

USD/tấn

2.606,00

-23,00

-0,87%

Thiếc LME

USD/tấn

19.275,00

+250,00

+1,31%

Ngô

US cent/bushel

370,25

+1,00

+0,27%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

511,00

+3,00

+0,59%

Lúa mạch

US cent/bushel

286,50

0,00

0,00%

Gạo thô

USD/cwt

10,69

0,00

0,00%

Đậu tương

US cent/bushel

865,50

+7,25

+0,84%

Khô đậu tương

USD/tấn

317,60

+0,80

+0,25%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,08

+0,06

+0,21%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

497,20

+0,70

+0,14%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.097,00

+9,00

+0,43%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

112,90

+1,00

+0,89%

Đường thô

US cent/lb

12,92

+0,07

+0,54%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

142,70

-1,00

-0,70%

Bông

US cent/lb

77,16

+0,35

+0,46%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

324,20

-15,00

-4,42%

Cao su TOCOM

JPY/kg

168,20

-1,00

-0,59%

Ethanol CME

USD/gallon

1,31

-0,01

-1,14%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg