Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng khá mạnh sau khi Viện Xăng dầu Mỹ (API) công bố số liệu cho thấy dự trữ dầu thô Mỹ đã giảm 8,6 triệu thùng trong tuần trước...
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent Biển Bắc tăng 1,69 USD (2,2%) lên 79,06 USD/thùng; dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) cộng thêm 1,71 USD (tăng 2,5%) lên 69,25 USD/thùng.
Giá dầu đã nới rộng đà tăng sau khi Viện Xăng dầu Mỹ (API) công bố số liệu cho thấy dự trữ dầu thô Mỹ đã giảm 8,6 triệu thùng trong tuần trước, cao hơn rất nhiều so với mức dự báo giảm 805.000 thùng mà các chuyên gia phân tích đưa ra.
Nguồn cung dầu có nguy cơ bị thắt chặt.
Các lệnh trừng phạt của Mỹ đang ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu dầu của Iran. Kể từ khi chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump thông báo sẽ tái áp đặt lệnh trừng phạt lên Iran, các giao dịch dầu thô phải kèm theo một mức phí rủi ro, phản ánh tình trạng thiếu hụt nguồn cung có thể xảy ra khi xuất khẩu từ thành viên lớn thứ ba trong Tổ chức Các Nước Xuất khẩu dầu (OPEC) bị cắt giảm. Do thời điểm ngày áp lệnh trừng phạt 4/11 ngày tới gần, mức phí này đã tăng cao. Washington đã đề nghị các đồng minh của họ giảm nhập khẩu dầu Iran và một số khách hàng mua châu Á, trong đó có Hàn Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ.
Trong khi đó, báo cáo của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho hay sản lượng dầu thô của nước này trong năm 2019 dự đoán sẽ tăng 840.000 thùng/ngày lên 11,5 triệu thùng/ngày, thấp hơn so với mức dự báo tăng 1.02 triệu thùng/ngày lên 11,7 triệu thùng/ngày đưa ra trước đó. Số liệu chính thức về sản lượng và dự trữ dầu của Mỹ sẽ được Bộ Năng lượng công bố vào cuối ngày 12/9.
Tuy nhiên, chính quyền Mỹ không muốn đẩy giá dầu lên cao vì điều này có thể làm suy yếu hoạt động kinh tế hay thậm chí gây ra sự sụt giảm trong tăng trưởng toàn cầu.
Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Rick Perry đã có cuộc gặp với Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia Khalid al-Falih ngày 10/9 tại Washington, trong đó chính quyền Tổng thống Trump khuyến khích các nước sản xuất dầu lớn duy trì sản lượng cao. Theo kế hoạch, ông Perry sẽ gặp mặt Bộ trưởng Năng lượng Nga Alexander Novak vào ngày 13/9 tới tại Moskva.
Nga, Mỹ và Saudi Arabia là ba nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới cho đến nay, đáp ứng hơn 30% trong gần 100 triệu thùng dầu tiêu thụ mỗi ngày của thế giới.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng do các nhà đầu tư bắt đầu mua vào nhiều vàng hơn khi giá kim loại quý này đang dần nhích đến ngưỡng tâm lý quan trọng là 1.200 USD/ounce.
Hợp đồng vàng giao ngay tăng 0,2% lên 1.197,28 USD/ounce, trong khi hợp đồng giao kỳ hạn tháng 12/2018 cũng tăng 0,2%, hay 2,4 USD, lên 1.202,2 USD/ounce.
Tuy nhiên, đồng USD vẫn tiếp tục đi lên cản trở giá vàng tăng. Phiên này, Chỉ số đồng USD - được coi là thước đo "sức khỏe" của đồng bạc xanh so với các đồng tiền chủ chốt khác - tăng 0,11% lên 95,24 (điểm).
Kể từ mức đỉnh được ghi nhận hồi tháng 4/2018 tới nay, giá vàng đã mất hơn 10% trong bối cảnh một cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc khả năng xảy ra đã khiến nhà đầu tư quay sang đồng USD thay vì vàng - một kênh “trú ẩn an toàn” truyền thống.
Một yếu tố khác cũng góp phần "hỗ trợ" đồng USD là những tuyên bố của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc ông đã sẵn sàng áp thuế lên gần như mọi mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc vào thị trường Mỹ.
Ngoài ra, các số liệu việc làm khá lạc quan được công bố hồi cuối tuần trước cho thấy khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ nâng lãi suất vào tháng Chín này là khá cao. Giá vàng luôn nhạy cảm với các động thái điều chỉnh lãi suất của Mỹ, bởi lãi suất tăng sẽ giúp đồng USD mạnh lên song lại khiến sức hấp dẫn của các tài sản không sinh lời như vàng giảm đi đáng kể.
Về những kim loại khác, giá bạc giảm 0,4% xuống 14,1 USD/ounce, sau khi đã có lúc rơi xuống mức thấp nhất kể từ tháng 1/2016 là 13,9 USD/ounce; giá bạch kim tăng 0,6% lên 786,99 USD/ounce, trong khi palađi giảm 0,4% xuống 971,49 USD, sau khi có lúc đạt mức cao nhất gần 12 tuần là 991,15 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nickel chạm mức thấp nhất trong 8 tháng và kẽm giảm xuống mức thấp nhất trong ba tuần qua do hoạt động bán đầu cơ trong bối cảnh lo ngại căng thẳng thương mại quốc tế, tồn kho lớn và giá thép giảm. Giá nickel kỳ hạn 3 tháng tại London đóng cửa giảm 1,5% xuống 12.230 USD/tấn sau khi chạm mức 12.165 USD, mức thấp nhất kể từ ngày 29/12/2017. Giá kẽm kỳ hạn 3 tháng đã giảm 2,9% còn 2.311 USD/tấn, mức thấp nhất kể từ 16/8/2018. Lượng tồn kho kẽm tại LME đã tăng 74% kể từ đầu tháng 3 lên 229.675 tấn.
Giá thép kỳ hạn giao sau của Trung Quốc đã giảm hơn 4% sau khi có tin Bộ Môi trường có thể sẽ cho phép các tỉnh phía Bắc tự đưa ra kế hoạch cắt giảm sản xuất trong mùa đông. Kế hoạch này cho phép thực hiện linh hoạt hơn chính sách chống ô nhiễm trong mùa đông để hạn chế tác động xấu tới kinh tế. Theo kế hoạch dự thảo được công bố hồi tháng trước, Bắc Kinh đang cân nhắc áp dụng cắt giảm 50% sản lượng thép ở một số khu vực.
Giá thép cây kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn Thượng Hải đóng cửa giảm 4,3% xuống 4.071 CNY(594 USD)/tấn.Giá thép cuộn cán nóng kỳ hạn giao sau giảm 4,6% xuống còn 3.969 CNY/tấn, sau đó chạm mức 3.957 CNY, mức thấp nhất kể từ ngày 23/7/2017. Giá quặng sắt kỳ hạn cũng giảm 1,1% xuống còn 492,50 CNY/ tấn. Giá quặng sắt giao ngay tại cảng Qingdao Trung Quốc giảm 1% xuống 67,81 USD/tấn vào ngày giao dịch đầu tuần, sau 4 ngày tăng cao, theo Metal Bulletin.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 12/2018 giảm 0,8 US cent tương đương 0,8% xuống 1,0045 USD/lb, trong khi robusta giao tháng 11/2018 tăng 1 USD tương đương 0,1% lên 1.478 USD/tấn. Arabica tiếp tục chịu áp lực giảm do nội tệ Brazil yếu đi và nguồn cung dồi dào.
Đối với đường, đường thô giao tháng 10/2018 giảm 0,02 US cent tương đương 0,2% xuống 11,18 US cent/lb; đường trắng giao tháng 12/2018 tăng 3,3 USD tương đương 1% lên 337,50 USD/tấn.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo tăng nhẹ vào cuối phiên giao dịch sau khi giảm vào phiên sáng do tồn kho cao và nhu cầu yếu. Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo giảm 0,6 yên (0,0054 USD) vào phiên sáng theo xu hướng giảm giá của Thượng Hải.
"Doanh số bán xe tải nặng trong tháng 8 giảm đáng kể, cho thấy nhu cầu tiêu thụ cao su yếu. Trong tháng 8, tồn kho tại Thanh Đảo tăng trở lại và nhập khẩu cao su cũng tăng, "Zhao Wenting, một nhà phân tích tại Dongwu cho biết.
Tại Tokyo, hợp đồng giao tháng 2/2019 chốt phiên tăng 0,8 JPY đạt 166,7 JPY/kg. Tại Thượng Hải, hợp đồng giao tháng 1/2019 giảm 85 CNY(12,38 USD) còn 11.930 CNY/ tấn. Tại Sicom, hợp đồng giao tháng 10/2018 đạt 131,4 cent Mỹ/kg, giảm 0,6 xu.
Giá thịt lợn tại Mỹ giảm mạnh do hoạt động bán kỹ thuật trước khi cơn bão mạnh sắp đổ bộ vào bờ Đông nước này, đe dọa sản xuất thịt lợn ở Carolinas, nơi có một số nhà máy đóng gói lớn nhất nước Mỹ. Giá thịt heo nạc tại Chicago chốt hiên giảm 1.475 cent/ lb còn 54.475 cent/lb. Giá kỳ hạn tháng 12 giảm 1.600 cent/lb xuống còn 54.100 cent/lb. Lợn hơi giao tháng 10 đã giảm 0.850 cent/lb xuống 109.300 cent, giao tháng 12 giảm 0,500 cent xuống còn 113.925 cent/lb.
Nhà sản xuất thịt lợn Smithfield Foods cho biết họ sẽ đóng cửa hai nhà máy lợn ở Bắc Carolina vào thứ Năm và thứ Sáu, kể cả nhà máy lớn Tar Heel có thể xử lý 35.000 con lợn/ngày. Cơn bão mạnh Florence dự kiến sẽ đi vào bờ biển Bắc Carolina vào thứ Sáu, theo dự báo mới nhất. Ngoài ra, dịch bệnh heo tại Châu Á và Châu Âu cũng đang ảnh hưởng tới giá thịt lợn nạc.Dịch sốt heo Châu Phi đang lan rộng tại Trung Quốc trong những tuần gần đây, Nhật Bản trong tháng này đã phát hiện ra trường hợp nhiễm bệnh đầu tiên trong vòng 26 năm, chủng khác với Trung Quốc. Dịch sốt lợn Châu Phi cũng đã được tìm thấy ở Châu Âu.
Thông tin Mỹ sẽ tăng xuất khẩu lợn và thịt lợn để bù lại việc tiêu huỷ đàn heo ở các nước bị ảnh hưởng dịch bệnh, đã hạn chế phần nào mức giảm giá kỳ hạn.
Giá hàng hóa thế giới 

 

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

69,79

+0,54

+0,78%

Dầu Brent

USD/thùng

79,27

+0,21

+0,27%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

51.500,00

+1.030,00

+2,04%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,84

+0,01

+0,25%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

202,31

+0,89

+0,44%

Dầu đốt

US cent/gallon

225,72

+0,52

+0,23%

Dầu khí

USD/tấn

694,00

+3,75

+0,54%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

69.780,00

+1.240,00

+1,81%

Vàng New York

USD/ounce

1.200,70

-1,50

-0,12%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.272,00

+4,00

+0,09%

Bạc New York

USD/ounce

14,13

-0,02

-0,16%

Bạc TOCOM

JPY/g

50,40

-0,30

-0,59%

Bạch kim

USD/ounce

788,91

-2,92

-0,37%

Palađi

USD/ounce

974,19

-1,24

-0,13%

Đồng New York

US cent/lb

261,35

-0,80

-0,31%

Đồng LME

USD/tấn

5.859,00

-51,00

-0,86%

Nhôm LME

USD/tấn

2.044,00

-51,00

-2,43%

Kẽm LME

USD/tấn

2.311,00

-70,00

-2,94%

Thiếc LME

USD/tấn

19.045,00

+40,00

+0,21%

Ngô

US cent/bushel

366,25

-0,50

-0,14%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

519,00

+0,25

+0,05%

Lúa mạch

US cent/bushel

246,75

+0,25

+0,10%

Gạo thô

USD/cwt

10,80

+0,05

+0,47%

Đậu tương

US cent/bushel

830,50

-1,25

-0,15%

Khô đậu tương

USD/tấn

315,80

-0,40

-0,13%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,05

-0,03

-0,11%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

492,80

-0,80

-0,16%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.284,00

-16,00

-0,70%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

100,45

-0,80

-0,79%

Đường thô

US cent/lb

12,00

-0,03

-0,25%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

157,20

-1,40

-0,88%

Bông

US cent/lb

82,91

+0,02

+0,02%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

382,50

-0,80

-0,21%

Cao su TOCOM

JPY/kg

167,00

+0,30

+0,18%

Ethanol CME

USD/gallon

1,29

+0,00

+0,23%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg