Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump để ngỏ khả năng Mỹ có thể dỡ bỏ trừng phạt nhằm mở đường cho cuộc gặp Tổng thống Iran Hassan Rouhani.
Kết thúc phiên, dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) kỳ hạn tháng 10/2019 giảm 1,65 USD (2,9%) xuống 55,75 USD/thùng, trong khi dầu Brent kỳ hạn tháng 11/2019 cũng giảm 1,57 USD (2,5%) xuống 60,81 USD/thùng.
Chuyên gia phân tích dầu mỏ Giovanni Staunovo, thuộc UBS, cho rằng nếu quan hệ giữa Mỹ và Iran giảm căng thẳng thị trường dầu mỏ sẽ có thêm nguồn cung từ Iran.
Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) ngày 11/9 cho biết kinh tế toàn cầu giảm tốc là nguyên nhân khiến nhu cầu dầu mỏ trên thế giới trong năm 2020 sụt giảm, đồng thời nhận định cần phải nỗ lực nhằm tránh lặp lại tình trạng dư thừa dầu mỏ.
Trong báo cáo công bố hàng tháng, OPEC cho biết nhu cầu dầu toàn cầu sẽ tăng 1,08 triệu thùng/ngày, ít hơn 60.000 thùng/ngày so với dự đoán trước đó, đồng thời cho rằng thị trường “vàng đen” sẽ rơi vào tình trạng dư cung.
Triển vọng không khả quan về nhu cầu dầu mỏ được đưa ra trong bối cảnh cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc và tiến trình Anh rời EU (Brexit) gây sức ép đối với các nước OPEC và các quốc gia đối tác khác, gồm Nga, nhằm tiếp tục chính sách cắt giảm sản lượng dầu mỏ.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng bởi đồn đoán các ngân hàng trung ương lớn sẽ nới lỏng chính sách tiền tệ trong khi những rủi ro về tăng trưởng toàn cầu vẫn hiện hữu. Tuy vậy, đà tăng bị hạn chế phần nào do các nhà đầu tư tìm đến những tài sản mang tính rủi ro cao.
Cuối phiên giao dịch, giá vàng giao ngay tăng 0,6% lên 1.494,90 USD/ounce. Phiên trước đó giá chạm mức thấp nhất kể từ ngày 13/8/2019 là 1.483,90 USD/ounce. Giá vàng kỳ hạn giao sau tăng 0,3% lên 1.503,20 USD/ounce.
Lãnh đạo của TIAA Bank Chris Gaffney nhận định: Nếu Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) thông báo cắt giảm hoặc tăng thanh khoản, điều đó sẽ tiếp thêm sức các kim loại quý. Lãi suất thấp và tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại đang hỗ trợ giá vàng duy trì ở mức cao.
Hiện các nhà đầu tư đang hướng sự chú ý đến quyết định chính sách tiền tệ của ECB, khi ngân hàng này nhóm họp vào ngày 12/9/2019. Nhiều khả năng ECB sẽ hạ lãi suất sau kỳ họp này. Ngoài ra, quyết định của ECB có thể sẽ trở thành tiền đề cho những quyết định sắp tới của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ). Lãi suất thấp sẽ tác động đến đồng USD, khiến vàng trở nên rẻ hơn cho các nhà đầu tư nắm giữ những loại tiền tệ khác.
Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cũng đón nhận thông tin cho hay Trung Quốc sẽ miễn áp thuế bổ sung đối với 16 loại mặt hàng của Mỹ. Dự kiến, quyết định này sẽ có hiệu lực trong một năm, bắt đầu từ ngày 17/9 đến 16/9/2020. Đáp lại, Tổng thống Mỹ Donald Trump cùng ngày thông báo, theo yêu cầu của Bắc Kinh, ông đã nhất trí hoãn hai tuần kế hoạch tăng thuế lên 30% đối với 250 tỷ USD hàng hóa vốn đã bị áp mức thuế 25%. Động thái trên diễn ra trong bối cảnh các cường quốc kinh tế này dự kiến sẽ nối lại cuộc đàm phán thương mại cấp cao vào tháng tới. 
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 0,4% lên 18,09 USD/ounce, sau khi chạm mức thấp của hai tuần là 17,75 USD/ounce trong tuần trước. Giá palađi tăng 0,3% lên 1.565,87 USD/ounce sau khi đạt mức cao nhất kể từ ngày 11/7 là 1.590 USD/ounce. Giá bạch kim giao ngay tăng 0,9% lên 938,58 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, trên sàn Đại Liên (Trung Quốc), giá quặng sắt kỳ hạn giao tháng 1/2020 có lúc tăng 2,2% đạt 665 CNY/tấn, kết thúc phiên tăng 1,5% đạt 661 CNY/tấn. Giá quặng sắt 62% (giao ngay) nhập khẩu vào Trung Quốc đạt 93 USD/tấn, tăng 1 USD/tấn so với phiên trước đó.
Khối lượng quặng sắt giao vào 26 cảng của Trung Quốc đạt 17,8 triệu tấn trong tuần 2-8/9/2019, giảm 3,2 triệu tấn so với tuần trước đó, theo Mysteel. Nhập khẩu từ Australia và Brazil đã giảm 2,7 triệu tấn, xuống còn 21 triệu tấn.
Lo ngại về nhu cầu yếu đã ép giá thép giảm nhẹ. Giá thép cây giao tháng 1/2020 trên sàn Thượng Hải giảm 0,1% xuống còn 3.481 CNY/tấn; thép cuộn cán nóng giao tháng 1/2020 giảm 0,4% xuống còn 3.515 CNY/tấn.
Doanh số bán ô tô tại Trung Quốc giảm 6,9% trong tháng 8/2019, tháng giảm thứ 14 liên tiếp; trông khi doanh số bán xe năng lượng mới cũng giảm 15,8%, theo Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Trung Quốc.
Giá đồng giảm cũng bởi doanh số ô tô Trung Quốc giảm mạnh vì điều đó làm dấy lên lo ngại nhu cầu từ nước tiêu thụ kim loại lớn nhất thế giới này sẽ yếu đi. Giá đồng kỳ hạn 3 tháng tại LME giảm 0,9% còn 5.772 USD/tấn, chạm gần mức thấp nhất 2 năm đạt được vào đầu tháng này là 5.518 USD.
Mối lo ngại về triển vọng kinh tế Trung Quốc lớn hơn bất kỳ sự lạc quan nào từ quyết định của Bắc Kinh về việc miễn một số hàng hóa của Mỹ khỏi thuế quan bổ sung, có khả năng làm giảm căng thẳng tranh chấp thương mại. Trừ khi đạt được thỏa thuận thương mại Mỹ- Trung, nếu không giá sẽ vẫn ở quanh mức hiện tại do nhu cầu yếu hơn được bù đắp bởi những hạn chế về nguồn cung, nhà phân tích Ole Hansen của Saxo Bank cho biết.
Trên thị trường nông sản, giá tại sàn Chicago hầu hết giảm mạnh do triển vọng vụ ngũ cốc trồng muộn khả quan nhờ một đợt nắng nóng cuối hè. Thời tiết ấm hơn so với bình thường trên hầu hết vành đai Trung Tây nước Mỹ dự kiến sẽ giúp cây phát triển tốt.
Tại Chicago, giá đậu tương kỳ hạn tháng 11/2019 giảm 5-1/2 US cent xuống 8,66-1/2 cent/bushel. Giá ngô kỳ hạn tháng 12/2019 giảm 1-1/2 US cent xuống 3,60 USD/bushel, trong khi giá lúa mì cùng kỳ hạn giảm 4-3/4 US cent xuống còn 4,77-1/2 USD/bushel.
Giá cà phê Arabica giao tháng 12/2019 đã tăng 1,8%, tương đương 1,7%, đạt 1,034 USD/ lb sau khi chạm mức cao nhất kể từ cuối tháng 7 là 1,047 USD/lb. Cà phê Robusta giao tháng 11/2019 tăng 11 USD, tương đương 0,8%, đạt 1.338 USD/tấn.
Trong tháng 8, xuất khẩu từ hai nước sản xuất cà phê đứng đầu thế giới đều giảm. Xuất khẩu cà phê xanh từ Brazil đã giảm 8,5% so với năm ngoái, do xuất khẩu cà phê Robusta giảm 14,4%. Xuất khẩu cà phê từ Việt Nam cũng giảm 18,7% so với tháng 7 còn 1,90 triệu bao (60 kg).
Giá đường thô giao tháng 10 tại New York giảm 0,07 US cent, tương đương 0,6%, còn 10,81 US cent/lb; trái lại giá đường trắng giao cùng kỳ hạn tại London tăng 8,30 USD, tương đương 2,5%, đạt 309,80 USD/tấn.
Giá cao su giảm tại Tokyo, Thượng Hải và Singapore. Giá cao su tại Tokyo rời khỏi mức cao nhất 3 tuần đạt được trong phiên liền trước do các nhà đầu tư đã chốt lời từ đợt tăng gần đây.Tại Tokyo, hợp đồng giao tháng 2/2020 giảm hơn 0,2 JPY còn 168,8 JPY(1,57 USD)/kg. Trong phiên, có lúc giá chạm mức 170,4 JPY, mức cao nhất kể từ ngày 21/8. Giá cao su TSR20 giao tháng 3/2020 chốt phiên không đổi ở mức 141,2 JPY/kg. Tại Thượng Hải, giá cao su giao tháng 1/2020 giảm 5 CNY/tấn còn 12.000 CNY (1.686 USD)/tấn. Tại Singapore, giá cao su giao tháng 10/2019 chốt phiên đạt 133,0 US cent/kg, giảm 0,7%.

Giá hàng hóa thế giới

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

55,57

-1,65

-2,9%

Dầu Brent

USD/thùng

60,81

-1,57

-2,5%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

37.620,00

-730,00

-1,90%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,55

0,00

-0,20%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

157,98

+0,99

+0,63%

Dầu đốt

US cent/gallon

191,52

+1,20

+0,63%

Dầu khí

USD/tấn

584,50

-5,00

-0,85%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

55.750,00

-670,00

-1,19%

Vàng New York

USD/ounce

1.501,20

-2,00

-0,13%

Vàng TOCOM

JPY/g

5.173,00

+8,00

+0,15%

Bạc New York

USD/ounce

18,18

+0,02

+0,08%

Bạc TOCOM

JPY/g

62,70

-0,40

-0,63%

Bạch kim

USD/ounce

946,64

+2,13

+0,23%

Palađi

USD/ounce

1.575,50

-0,18

-0,01%

Đồng New York

US cent/lb

263,10

+1,65

+0,63%

Đồng LME

USD/tấn

5.772,50

-52,50

-0,90%

Nhôm LME

USD/tấn

1.825,00

+5,00

+0,27%

Kẽm LME

USD/tấn

2.363,00

+25,00

+1,07%

Thiếc LME

USD/tấn

17.775,00

+355,00

+2,04%

Ngô

US cent/bushel

361,25

+1,25

+0,35%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

478,25

+0,75

+0,16%

Lúa mạch

US cent/bushel

279,75

+5,25

+1,91%

Gạo thô

USD/cwt

12,05

-0,04

-0,37%

Đậu tương

US cent/bushel

872,25

+5,75

+0,66%

Khô đậu tương

USD/tấn

295,80

+1,10

+0,37%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,91

+0,08

+0,28%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

441,90

+0,80

+0,18%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.304,00

+17,00

+0,74%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

103,40

+1,80

+1,77%

Đường thô

US cent/lb

10,81

-0,07

-0,64%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

105,25

+1,40

+1,35%

Bông

US cent/lb

59,74

+0,37

+0,62%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

380,60

+8,60

+2,31%

Cao su TOCOM

JPY/kg

169,70

+0,90

+0,53%

Ethanol CME

USD/gallon

1,33

+0,00

+0,15%

Nguồn: VITIC/ Reuters, Bloomberg