Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm sau số liệu cho thấy dự trữ dầu thô của Mỹ tăng mạnh hơn dự kiến và kho dự trữ xăng cũng đang đầy lên.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 4/2018 trên sàn New York giảm 1,37 USD (2,17%) xuống 61,64 USD/thùng; dầu Brent giao tháng 5 trên sàn London giảm 1,79 USD (2,7%) xuống 64,73 USD/thùng.
Thống kê chính thức cho thấy trong tuần kết thúc vào ngày 23/2, dự trữ dầu thô của Mỹ tăng 3 triệu thùng, cao hơn so với dự kiến tăng 2,1 triệu thùng của các nhà phân tích đưa ra trước đó.
Bên cạnh đó, giá dầu còn chịu sức ép từ báo cáo của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), trong đó điều chỉnh sản lượng dầu thô trong tháng 11/2017 lên mức kỷ lục 10,057 triệu thùng/ngày.
Theo các chuyên gia, việc sản lượng dầu của Mỹ tăng 20% kể từ giữa năm 2016 có tác động tiêu cực đến giá dầu trong năm nay, bất chấp nỗ lực cắt giảm nguồn cung của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC). Sản lượng của Mỹ ngày càng tăng đã hạn chế giá trong năm nay mặc dù OPEC và Nga đã giảm sản lượng.
Sự gia tăng này chủ yếu so sản lượng tăng từ khu vực đá phiến ở Texas và Bắc Dakota. Sản lượng ở đó tăng mạnh vào đầu thập kỷ này do công nghệ mới cho phép các nhà khoan dầu trích xuất lượng lớn dầu thô từ các mỏ dầu. Sự gia tăng sản lượng dầu thô đã cắt giảm nhập khẩu dầu thô của Mỹ 20% trong một thập kỷ và tăng cường xuất khẩu năng lượng.
Hoạt động chế tạo tại các quốc gia tiêu thụ dầu mỏ hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản đều đang trong xu hướng sụt giảm cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến giá “vàng đen”.
Tại Trung Quốc, nhập khẩu dầu thô trong tháng 1 tăng lên mức kỷ lục mới 9,57 triệu thùng/ngày, nhưng các dự báo tăng trưởng GDP chậm lại khiến giới phân tích cảnh giác với những dự báo quá lạc quan. Tăng trưởng nhu cầu dầu thô của Trung Quốc có thể giảm trong năm nay xuống 4,2% từ 5,5% trong năm ngoái, theo các nhà phân tích của S&P Platts.
Tại Ấn Độ, hoạt động lọc dầu cao và việc mở rộng công suất lọc dầu trong bối cảnh nhu cầu phục hồi mạnh đã đẩy nhập khẩu dầu thô lên kỷ lục 4,93 triệu thùng/ngày trong tháng 1/2018, tăng hai chữ số cả trong tháng 12/2017 và tháng 1/2018, theo số liệu của Thomson Reuters.
Ấn Độ đang thu hút sự chú ý của thế giới khi nhập khẩu dầu mỏ tăng lên mức cao kỷ lục trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế và nhu cầu nhiên liệu mạnh. Dự đoán tiêu thụ dầu mỏ và năng lượng trong dài hạn của Ấn Độ cũng lạc quan và Ấn Độ là một động lực tăng trưởng nhu cầu dầu mỏ chủ chốt.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng duy trì vững so với phiên trước. Vàng giao tháng 4/2018 giảm 70 US cent, tương đương 0,05%, xuống còn 1.317,90 USD/ounce; vàng giao ngay vững ở 1.317,94 USD/ounce.
Chỉ số USD, thước đo giá trị đồng USD so với giỏ các đồng tiền chủ chốt khác, tăng 0,25% lên 90,59 .
Giá vàng và đồng USD thường biến động trái chiều nhau. Khi đồng USD mạnh lên thì vàng tại các hợp đồng kỳ hạn, được định giá bằng USD, trở nên kém hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư đang nắm giữ các đồng tiền yếu hơn USD.
Nga đã trở thành nước sở hữu vàng lớn thứ 5 thế giới sau khi Ngân hàng Trung ương Nga (CBR) tăng dự trữ vàng của mình thêm 20 tấn, lên 1.857 tấn vào tháng 1 vừa qua. CBR đã tăng dự trữ vàng của Nga để đáp ứng mục tiêu do Tổng thống Nga Vladimir Putin đặt ra để Nga giảm thiểu những tác động tiêu cực từ các rủi ro địa chính trị. Giới chức Kremlin đánh giá vàng là nơi "trú ẩn" an toàn khi có bất ổn địa chính trị. Kể từ tháng 3/2015, Nga đã tăng dự trữ vàng của mình hàng tháng.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao tháng 5/2018 lúc đóng cửa phiên vừa qua giảm 2,7 US cent, tương đương 0,16%, xuống còn 16,407 USD/ounce; bạch kim giao tháng 4/2018 chốt phiên tăng 3,5 USD, tương đương 0,36%, lên 988,10 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê robusta giao tháng 5 giảm 11 US cent tương đương 1.724 USD/tấn trong bối cảnh xuất khẩu mạnh từ nước sản xuất robusta hàng đầu thế giới (Việt Nam). Xuất khẩu cà phê toàn cầu trong tháng 1 đã tăng 20,7% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó robusta tăng 48,2%, theo số liệu của Tổ chức Cà phê Quốc tế.
Arabica giao cùng kỳ hạn tăng 0,9US cent tương đương 0,7% lên 1,22 USD/lb.
Với mặt hàng đường, giá đường thô tăng mạnh 4% từ mức thấp nhất 8 tháng của phiên trước đó do hoạt động mua bù trước khi hợp đồng giao tháng 3 hết hạn.
Đường thô giao tháng 5 giá tăng 0,51 US cent tương đương 4% lên 13,38 US cent/lb, còn đường trắng giao cùng kỳ hạn tăng 10,8 USD tương đương 3,1% lên 361,30 USD/tấn.
Tuy nhiên, triển vọng thị trường đường vẫn là nguồn cung dư thừa khi sản lượng tại Liên minh châu Âu, Thái Lan, Ấn Độ… cao kỷ lục.
Sản lượng đường Ấn Độ niên vụ 2017/18 dự báo sẽ tăng lên mức cao kỷ lục 29,2 triệu tấn, tăng gần 12% so với dự báo trước đây, do sản lượng ở bang Maharastra có thể cao gấp đôi năm ngoái, theo kết quả điều tra của Reuters tiến hành đối với các thương gia địa phương và thế giới. Bang Maharashtra chắc chắn sẽ đạt 10,2 triệu tấn, cao hơn mức dự báo của Chính phủ là 7,3 triệu tấn, do năng suất mía cao hơn dự báo.
Niên vụ 2016/17 (kết thúc vào 30/9) Ấn Độ sản xuất 20,3 triệu tấn đường bao gồm 4,2 triệu tấn của bang Maharashtra.
Tiêu thụ đường nội địa ước khoảng 26 triệu tấn. Như vậy, Chính phủ có thể sẽ xem xét lại chính sách xuất khẩu. Hiện nước này vẫn đang áp thuế xuất khẩu đường ở mức 20%.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

61,64

-1,37

-1,65%

Dầu Brent

USD/thùng

64,73

-1,79

-2,01%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.180,00

-1.200,00

-2,90%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,66

0,00

-0,11%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

192,39

-0,07

-0,04%

Dầu đốt

US cent/gallon

190,44

+0,09

+0,05%

Dầu khí

USD/tấn

573,25

-5,50

-0,95%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

55.820,00

-1.350,00

-2,36%

Vàng New York

USD/ounce

1.316,20

-0,70

-0,03%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.503,00

-23,00

-0,51%

Bạc New York

USD/ounce

16,38

-0,03

-0,20%

Bạc TOCOM

JPY/g

56,30

-0,40

-0,71%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

979,39

-4,19

-0,43%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

1.043,57

+0,44

+0,04%

Đồng New York

US cent/lb

313,50

+0,25

+0,08%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.931,00

-90,00

-1,28%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.132,00

-15,00

-0,70%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.447,50

-39,50

-1,13%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.530,00

-195,00

-0,90%

Ngô

US cent/bushel

380,75

-1,25

-0,33%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

493,25

-1,75

-0,35%

Lúa mạch

US cent/bushel

270,50

+0,25

+0,09%

Gạo thô

USD/cwt

12,55

+0,01

+0,04%

Đậu tương

US cent/bushel

1.053,25

-2,25

-0,21%

Khô đậu tương

USD/tấn

389,20

-5,50

-1,39%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32,23

0,00

0,00%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

523,80

-0,20

-0,04%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.218,00

-9,00

-0,40%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

122,00

+0,90

+0,74%

Đường thô

US cent/lb

13,38

+0,51

+3,96%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

144,65

+0,65

+0,45%

Bông

US cent/lb

82,93

+0,68

+0,83%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

501,70

-10,00

-1,95%

Cao su TOCOM

JPY/kg

193,20

-0,60

-0,31%

Ethanol CME

USD/gallon

1,49

0,00

0,00%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg