Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô sụt giảm sau khi Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) đưa ra dự báo về nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ trên toàn cầu trong năm 2018.
Đóng cửa phiên giao dịch, giá dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 11/2017 trên sàn New York giảm 0,70 USD xuống 50,6 USD/thùng; dầu Brent Biển Bắc giao tháng 12/2017 trên sàn London giảm 0,69 USD xuống 56,25 USD/thùng.
Trong báo cáo mới nhất, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho rằng tăng trưởng nhu cầu năng lượng trên toàn cầu sẽ vẫn duy trì ở mức 1,6 triệu thùng/ngày (1,6%) trong năm 2017, và 1,4 triệu thùng/ngày (1,4%) trong năm 2018.
IEA cho biết tồn kho dầu thô của Mỹ đã giảm 2,7 triệu thùng trong tuần tới 6/10, cao hơn chút ít so với dự đoán của giới phân tích trong một thăm dò của Reuters là giảm 2 triệu thùng. Tồn kho đang sụt giảm trong những tuần gần đây, sau khi gián đoạn do bão Harvey hồi cuối tháng 8.
Tồn kho xăng tăng 2,5 triệu thùng so với dự báo giảm 480.000 thùng, thúc đẩy giá xăng kỳ hạn của Mỹ tiếp tục giảm và lợi nhuận xăng trở lại tiêu cực sau số liệu này.
IEA nhận định dự trữ dầu toàn cầu có thể sụt giảm trong năm 2017 và thị trường sẽ đạt trạng thái gần như cân bằng trong năm 2018 trong trường hợp sản lượng dầu của OPEC không thay đổi. IEA khuyến nghị Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) cùng các nước đồng minh cần tiếp tục hạn chế sản lượng để duy trì xu hướng cân bằng của thị trường dầu mỏ.
IEA cho rằng Saudi Arabia và Nga có động cơ kinh tế mạnh mẽ để hỗ trợ giá dầu thông qua việc hạn chế nguồn cung. Từ đầu năm đến nay, thu nhập của OPEC và Nga tăng khi giảm nguồn cung dầu ra thị trường. Đặc biệt, Saudi Arabia muốn giữ giá dầu ở mức cao trước thời điểm tập đoàn dầu mỏ Saudi Aramco của nước này phát hành cổ phiếu ra công chúng vào năm sau.
Theo IEA, trong bối cảnh cuộc họp giữa các nước sản xuất dầu sẽ diễn ra tại Vienna vào ngày 30/11/2017, những tuần tới sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng quyết định về sản lượng của các nước này.
Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) trong báo cáo tháng công bố ngày 11/10, dự đoán giá dầu sẽ duy trì trong khoảng 50-55 USD/thùng trong năm 2018.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng duy trì ở mức cao, giữa bối cảnh các nhà đầu tư chờ đợi số liệu về tỷ lệ lạm phát tại Mỹ dự kiến công bố ngày 13/10.
Tại New York, giá vàng giao ngay có lúc tăng lên 1.297,40 USD/ounce, mức cao nhất kể từ ngày 26/9, trước khi hạ về 1.293,40 USD/ounce; hợp đồng giao sau tăng lên 1.296,50 USD/ounce.
Theo biên bản cuộc họp trong tháng Chín của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), các nhà hoạch định chính sách của Fed đã có một cuộc thảo luận kéo dài về triển vọng lạm phát và khả năng làm chậm lộ trình nâng lãi suất nếu lạm phát không đi lên. Các nhà lãnh đạo Fed - Ngân hàng trung ương Mỹ - cho biết họ sẽ chú tâm vào số liệu lạm phát trong những tháng tới khi đưa ra quyết định về việc thay đổi lãi suất.
Tuy nhiên, chiến lược gia Rob Haworth thuộc Bank Wealth Management, cho rằng mùa báo cáo lợi nhuận khả quan của doanh nghiệp Mỹ có thể tạo động lực cho Fed tiếp tục nâng lãi suất và đây sẽ là cơn "gió ngược" đối với giá vàng. Kim loại quý này luôn tỏ ra nhạy cảm với các đợt nâng lãi suất của Fed vì động thái đó sẽ làm đồng USD tăng giá.
Về những kim loại quý khác, giá bạc tăng 0,4% lên 17,23 USD/ounce. Còn giá bạch kim tăng 0,8% lên 935,49 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, cà phê arabica giao tháng 12 giá giảm 0,45 US cent tương đương 0,4% xuống 1,2365 USD/lb, robusta giao tháng 11 tăng 22 USD tương đương 1,1% lên 1.997 USD/tấn.
Mưa ở những khu vực trồng cà phê của Brazil làm giảm lo ngại về ảnh hưởng đối với sản lượng, nhưng lượng mưa không nhiều.
Với mặt hàng đường, giá đường thô giao tháng 3 giảm 0,02 US cent tương đương 0,1% xuống 14,28 US cent/lb; đường trắng giao tháng 12 giảm 0,9 US cent tương đương 0,2% xuống 375,60 USD/tấn.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

50,60

-0,70

-1,2%

Dầu Brent

USD/thùng

56,25

-0,69

-1,1%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

37.680,00

-90,00

-0,24%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,00

+0,01

+0,27%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

159,00

+0,68

+0,43%

Dầu đốt

US cent/gallon

177,43

+0,88

+0,50%

Dầu khí

USD/tấn

526,00

+4,50

+0,86%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

52.430,00

-110,00

-0,21%

Vàng New York

USD/ounce

1,294.30

+5.40

+0.42%

Vàng TOCOM

JPY/g

4,658.00

+12.00

+0.26%

Bạc New York

USD/ounce

17,26

-0,01

-0,03%

Bạc TOCOM

JPY/g

62,10

0,00

0,00%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

938,32

+0,12

+0,01%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

983,15

+7,61

+0,78%

Đồng New York

US cent/lb

312,05

+0,05

+0,02%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.887,00

+87,00

+1,28%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.146,50

+16,50

+0,77%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.250,00

+31,00

+0,96%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.740,00

-130,00

-0,62%

Ngô

US cent/bushel

349,75

+0,75

+0,21%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

431,00

+0,50

+0,12%

Lúa mạch

US cent/bushel

263,00

+1,25

+0,48%

Gạo thô

USD/cwt

12,21

-0,04

-0,33%

Đậu tương

US cent/bushel

993,00

+1,00

+0,10%

Khô đậu tương

USD/tấn

326,60

+0,30

+0,09%

Dầu đậu tương

US cent/lb

33,40

+0,12

+0,36%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

496,10

+0,40

+0,08%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.090,00

-7,00

-0,33%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

126,35

-0,45

-0,35%

Đường thô

US cent/lb

14,28

-0,02

-0,14%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

158,90

-3,70

-2,28%

Bông

US cent/lb

67,67

-0,17

-0,25%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

417,20

+8,00

+1,96%

Cao su TOCOM

JPY/kg

199,50

+2,30

+1,17%

Ethanol CME

USD/gallon

1,43

+0,00

+0,07%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg