Trên thị trường năng lượng, giá dầu tiếp tục giảm. Dầu ngọt nhẹ (WTI) giảm 26 US cent xuống 59,93 USD/thùng, đánh dấu phiên giảm giá thứ 11 liên tiếp - dài nhất kể từ khi dầu WTI được đưa vào giao dịch; dầu Brent Biển Bắc giảm 6 US cent xuống 70,12 USD/thùng.
Trong một bài đăng trên trang Twitter cá nhân, Tổng thống Mỹ Donald Trump bày tỏ hy vọng Saudi Arabia và Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) sẽ không cắt giảm sản lượng. Theo ông, giá dầu cần phải thấp hơn nữa dựa trên nguồn cung.
Bình luận này của Tổng thống Mỹ được đưa ra sau khi Bộ trưởng Năng lương Saudi Arabia Khalid al-Falih trước đó cho biết OPEC đang xem xét cắt giảm sản lượng 1 triệu thùng dầu/ngày vào năm tới do nhu cầu đang giảm xuống, đồng thời quan ngại rằng các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran đã ít có tác động đến nguồn cung hơn so với dự đoán. Những bình luận này của Saudi Arabia đã khiến giá dầu đi lên trước đó trong phiên.
Saudi Arabia, nước xuất khẩu dầu lớn nhất thế giới, ngày 11/11/2018 còn cho biết sẽ cắt giảm lượng dầu xuất khẩu của nước này đi 500.000 thùng/ngày vào tháng 12 do nhu cầu giảm theo mùa.
Thị trường đã dự đoán rằng lượng dầu xuất khẩu của Iran sẽ giảm mạnh sau khi các lệnh trừng phạt của Mỹ có hiệu lực. Tuy nhiên, Mỹ đã cho phép nhiều nước nhập khẩu dầu lớn từ Iran được tạm thời miễn áp dụng lệnh trừng phạt nói trên.
OPEC và Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) sẽ lần lượt công bố báo cáo hàng tháng về triển vọng cung cầu trên thị trường “vàng đen” trong tuần này.
Giá dầu đã giảm khoảng 20% trong tháng 10/2018, do sự gia tăng nguồn cung toàn cầu và nguy cơ nhu cầu suy giảm, đặc biệt là nhu cầu của các nước có đồng tiền đang yếu đi so với đồng USD, từ đó làm giảm sức mua của các nước này.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng cũng giảm giảm do USD tăng lên mức cao nhất 16 tháng. Vàng giao ngay giá giảm 0,5% xuống 1.203,30 USD/ounce vào cuối phiên, sau khi rơi xuống 1.201,85 USD/ounce, mức thấp nhất trong một tháng vào đầu phiên; vàng giao sau giảm 5,1 USD (0,4%) xuống 1.203,50 USD/ounce.
Tuần trước, giá vàng đã ghi nhận tuần giảm mạnh nhất kể từ tháng 8/2018, sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tái khẳng định về chính sách thắt chặt tiền tệ, động thái được đánh giá là “trận gió ngược” đối với thị trường kim loại quý này. Sau cuộc họp kéo dài hai ngày hồi tuần trước, Fed đã đánh đi tín hiệu về khả năng sẽ tiếp tục nâng lãi suất vào tháng tới và duy trì thêm hai đợt tăng lãi suất nữa vào giữa năm 2019, trước triển vọng tích cực của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, các chuyên gia cho rằng tình hình chính trị thiếu chắc chắn tại Anh và Italy cũng củng cố đà tăng cho đồng bạc xanh. Chỉ số đồng USD, thước đo đánh giá đồng bạc xanh so với rổ tiền tệ, đã tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 6/2017, qua đó làm giảm sức hấp dẫn của vàng đối với các nhà đầu tư nắm giữ đồng tiền khác. Giá vàng đã giảm khoảng 12% kể từ mức đỉnh hồi tháng Tư, sau khi giới đầu tư “đổ xô” mua vào đồng USD.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nickel giảm xuống mức thấp nhất 11 tháng do lo lắng về nhu cầu thép không gỉ, trong khi các kim loại cơ bản khác cùng chung áp lực giảm bởi tình trạng kinh tế toàn cầu không rõ ràng. Nickel giao sau ba tháng trên sàn giao dịch kim loại London giảm 0,7% xuống 11.375 USD/tấn, thấp nhất kể từ ngày 15/12/2017.
Geordie Wilkes, giám đốc nghiên cứu tại Sucden Financial, London cho biết “sức ép vĩ mô tiếp tục gây áp lực giảm như tình trạng tăng trưởng của Trung Quốc, tình hình chính trị không rõ ràng tại châu Âu và đồng USD khá mạnh”.
Ngoài vấn đề kinh tế vĩ mô, nickel cũng bị áp lực giảm bởi thị trường thép không gỉ, nguồn tiêu thụ chính kim loại này. Sản lượng gang nickel gia tăng và dự trữ nickel ở Thượng Hải ngày càng lớn cho thấy tình trạng nhu cầu nickel suy giảm trong ngắn hạn.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 3/2018 giảm 3,5 US cent tương đương 3% xuống 1,14 USD/lb vào cuối phiên, trước đó có lúc xuống chỉ 1,1350 USD, thấp nhất trong vòng 1 tháng. Robusta giao tháng 1 năm sau cũng giảm 31 US cent tương đương 1,8% xuống 1.654 USD/tấn.
Đường thô kỳ hạn tháng 3/2018 đóng cửa phiên tăng 0,21 US cent hay 1,7% lên 12,94 US cent/lb. Đường trắng kỳ hạn tháng 12 chốt phiên tăng 1,8 USD hay 0,5% lên 345,90 USD/tấn.
Các đại lý cho biết số liệu sản xuất mía và đường khu vực trung nam Brazil do UNICA công bố được xem mang tính chất xây dựng. Số liệu nửa đầu tháng 10/2018 cho thấy chỉ 30,2% mía được sử dụng để sản xuất đường, trong khi một khảo sát của S&P Platts dự báo số liệu này là 30,51%. Thị trường giao động trong biên độ nhỏ, phần lớn phản ánh lập trường trung lập của các quỹ đầu tư.
Giá hàng hóa thế giới

 

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

59,93

-0,26

Dầu Brent

USD/thùng

70,12

-0,06

 

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

48.390,00

-1.340,00

-2,69%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,91

+0,12

+3,27%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

162,06

-1,61

-0,98%

Dầu đốt

US cent/gallon

214,48

-1,08

-0,50%

Dầu khí

USD/tấn

655,00

-11,50

-1,73%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

64.980,00

-1.320,00

-1,99%

Vàng New York

USD/ounce

1.203,60

+0,10

+0,01%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.384,00

-29,00

-0,66%

Bạc New York

USD/ounce

14,01

-0,01

-0,04%

Bạc TOCOM

JPY/g

51,50

-0,50

-0,96%

Bạch kim

USD/ounce

842,95

+2,73

+0,32%

Palađi

USD/ounce

1.101,92

+4,16

+0,38%

Đồng New York

US cent/lb

267,25

-0,40

-0,15%

Đồng LME

USD/tấn

6.049,00

-7,00

-0,12%

Nhôm LME

USD/tấn

1.942,00

-12,00

-0,61%

Kẽm LME

USD/tấn

2.496,50

-26,50

-1,05%

Thiếc LME

USD/tấn

19.265,00

+115,00

+0,60%

Ngô

US cent/bushel

369,75

-1,50

-0,40%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

519,50

-0,25

-0,05%

Lúa mạch

US cent/bushel

285,00

0,00

0,00%

Gạo thô

USD/cwt

10,65

+0,04

+0,33%

Đậu tương

US cent/bushel

883,00

-0,25

-0,03%

Khô đậu tương

USD/tấn

305,90

+0,30

+0,10%

Dầu đậu tương

US cent/lb

27,69

-0,02

-0,07%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

481,70

-0,70

-0,15%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.248,00

-39,00

-1,71%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

114,00

-3,50

-2,98%

Đường thô

US cent/lb

12,94

+0,21

+1,65%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

135,45

-0,70

-0,51%

Bông

US cent/lb

78,39

+0,14

+0,18%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

353,00

-5,40

-1,51%

Cao su TOCOM

JPY/kg

158,00

-0,50

-0,32%

Ethanol CME

USD/gallon

1,26

+0,00

+0,32%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg