Trên thị trường năng lượng, giá dầu dao động nhẹ. Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 3/2018 trên sàn New York tăng 0,09 USD lên 59,29 USD/thùng; dầu Brent giao tháng 4/2018 trên sàn London giảm 0,20 USD và đóng phiên ở mức 62,59 USD/thùng.
Đồng USD yếu đang hỗ trợ giá dầu. Giới quan sát cũng nhận định nhu cầu dầu mỏ vẫn sẽ cao, với việc Trung Quốc đã vượt qua Mỹ để trở thành nước nhập khẩu dầu thô lớn nhất trong năm 2017. Trong khi đó, nguồn cung giảm tại một số nơi ví dụ như Venezuela có thể hỗ trợ giá.
Tuy nhiên, theo báo cáo hàng tháng của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), sản lượng dầu khí đá phiến của Mỹ dự kiến sẽ tăng thêm 111.000 thùng/ngày trong tháng 3/2018, từ mức 6,76 triệu thùng/ngày của tháng trước. EIA ước tính sản lượng dầu của nước này có thể tăng lên khoảng 11 triệu thùng/ngày vào cuối năm nay.
EIA nhận định sản lượng dầu thô của Mỹ sẽ đạt trung bình gần 10,6 triệu thùng/ngày trong năm nay so với 9,3 triệu thùng/ngày trong năm 2017. Dự báo này được điều trình tăng nhẹ từ chưa tới 10,3 triệu thùng tại thời điểm dự báo trong tháng 1/2018 và 9,9 triệu thùng hồi tháng 7/2017. Tăng trưởng nhanh chóng bất ngờ trong sản lượng trên đất liền của Mỹ từ 48 tiểu bang những Sản lượng dầu thô từ 48 tiểu bang không tính vùng biển tại Vịnh Mexico được dự kiến tăng gần 1,25 triệu thùng/ngày trong năm nay.
Nếu các dự báo này chính xác, các nhà sản xuất dầu đá phiến của Mỹ sẽ đáp ứng toàn mức tăng nhu cầu dầu toàn cầu trong năm nay.
Nỗ lực hạn chế sản lượng của OPEC và Nga đang đem lại mức giá như mong đợi, nhưng đó cũng chính là động cơ để Mỹ đẩy mạnh sản xuất dầu đá phiến – lý do khiến giá dầu sụt giảm mạnh trong mấy năm qua. Một số chuyên gia cho rằng OPEC và các đồng minh cần bắt đầu kế hoạch kết thúc thỏa thuận để giữ lấy những thành quả đạt được.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng do đồng USD giảm, nhưng đà tăng bị hạn chế bởi Mỹ sắp công bố số liệu lạm phát của nước này (dự kiến trong tuần này).
Kết thúc phiên giao dịch, giá vàng giao ngay tăng 0,5% lên 1.323,16 USD/ounce; vàng giao sau giá tăng 0,8% lên 1.326,40 USD/ounce. Trong khi đó giá bạc tăng 1,2% lên 16,55 USD/ounce; giá bạch kim cũng tăng 0,7% và đươc giao dịch ở mức 971,50 USD/ounce.
Đồng USD yếu đi so với giỏ các đồng tiền chủ chốt do sự phục hồi của các thị trường chứng khoán, khiến vàng - vốn là kim loại quý được định giá bằng “đồng bạc xanh” - trở nên hấp dẫn hơn đối với người mua nắm giữ các đồng tiền khác, từ đó có thể thúc đẩy nhu cầu đối với vàng.
Những số liệu được công bố trong tháng này cho thấy thị trường việc làm và lương đều tăng lên, làm gia tăng những đồn đoán rằng lạm phát có thể tăng lên – điều kiện để Fed thực hiện nhiều đợt tăng lãi suất trong thời gian tới.
Số liệu lạm phát của Mỹ dự kiến sẽ được công bố trong ngày 14/2, và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục nhóm họp vào hai ngày 20-21/3 tới.
Thị trường vàng đang và sẽ diễn biến theo chính sách tiền tệ của Mỹ và sự biến động của đồng USD.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô giao tháng 3 tăng 0,06 US cent tương đương 0,44% lên 13,73 US cent/lb do các nhà dầu tư mua mạnh trước khi đáo hạn vào giữa tháng 2. Đường trắng giao cùng kỳ hạn tăng 1,4 USD tương đương 0,4% lên 356,10 USD/tấn.
Dự báo nguồn cung đường thô sẽ giảm trong bối cảnh Brazil – nước cung cấp lớn nhất trên thị trường mía đường – giảm cung, trong khi xuất khẩu đường từ Trung Mỹ sang Trung Quốc sẽ tăng lên.
Xuất khẩu đường Ucraina từ tháng 9/2017 đến tháng 1/2018 đạt 250.000 tấn, giảm khoảng 39% so với cùng kỳ năm trước.
Cà phê arabica tiếp tục giảm giá, với hợp đồng giao tháng 4 giảm 0,3 US cent tương đương 0,24% xuống 1,235 USD/lb, trong khi robusta giao cùng kỳ hạn vững giá ở 1.769 USD/tấn.
Costa Rica sẽ xóa bỏ lệnh cấm trồng robusta kéo dài đã 30 năm.
Xuất khẩu cà phê Việt Nam – nước sản xuất cà phê robusta lớn nhất thế giới – dự báo sẽ tăng trong năm nay do sản lượng tăng.
Dự báo xuất khẩu có thể đạt tổng cộng 1,55 triệu tấn trong năm 2018. Sản lượng trong niên vụ 2017/18 dự báo sẽ tăng khoảng 4,5% lên 1,6 triệu tấn.
Xuất khẩu của Việt Nam dự báo cũng sẽ tăng bởi nguồn cung giảm ở những nước khác.
Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 thế giới sau Brazil.
Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, sản lượng cà phê Việt Nam dự báo tăng nhờ thời tiết thuận lợi và giá năm ngoái cao khích lệ nông dân đầu tư cho cây trồng này.
Sản lượng của Indonesia, nước sản xuất lớn thứ 3 thế giới, dự báo sẽ giảm xuống mức thấp nhất 7 năm do thời tiết không thuận lợi, theo thông tin từ Hiệp hội Cà phê Indonesia.
Giá cà phê robusta năm 2017 đã giảm khoảng 17% so với năm trước đó.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

59,29

+0,09

+0,2%

Dầu Brent

USD/thùng

60,83

-0,20

-0,30%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

39.700,00

-1.120,00

-2,74%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,58

+0,02

+0,90%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

168,50

+0,65

+0,39%

Dầu đốt

US cent/gallon

184,56

+0,67

+0,36%

Dầu khí

USD/tấn

552,00

-3,75

-0,67%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

54.900,00

-950,00

-1,70%

Vàng New York

USD/ounce

1.323,16

0,90

-0,5

Vàng TOCOM

JPY/g

4.614,00

+6,00

+0,13%

Bạc New York

USD/ounce

16,51

-0,06

-0,39%

Bạc TOCOM

JPY/g

58,10

+0,30

+0,52%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

972,25

+1,45

+0,15%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

986,81

+1,66

+0,17%

Đồng New York

US cent/lb

308.15

-0.05

-0.02%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6,845.00

-35.00

-0.51%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2,170.00

+12.00

+0.56%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3,421.50

+41.50

+1.23%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21,325.00

-285.00

-1.32%

Ngô

US cent/bushel

308,40

-0,25

-0,08%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

6.831,00

+76,00

+1,13%

Lúa mạch

US cent/bushel

2.125,00

+2,00

+0,09%

Gạo thô

USD/cwt

3.382,50

-2,50

-0,07%

Đậu tương

US cent/bushel

21.095,00

+70,00

+0,33%

Khô đậu tương

USD/tấn

308,40

-0,25

-0,08%

Dầu đậu tương

US cent/lb

6.831,00

+76,00

+1,13%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

2.125,00

+2,00

+0,09%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.007,00

-53,00

-2,57%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

123,50

-0,30

-0,24%

Đường thô

US cent/lb

13,61

+0,06

+0,44%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

148,40

+0,80

+0,54%

Bông

US cent/lb

77,45

-0,18

-0,23%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

485,50

+2,50

+0,52%

Cao su TOCOM

JPY/kg

189,70

+0,50

+0,26%

Ethanol CME

USD/gallon

1,41

-0,01

-0,49%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg