Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm do các nhà đầu tư tiếp tục lo ngại về sản lượng khai thác dầu mỏ gia tăng ở Mỹ, trong lúc hoạt động bán ra có thể sẽ tiếp diễn.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 4/2018 giảm 68 US cent (1,1%) xuống 61,36 USD/thùng; dầu Brent giao cùng kỳ hạn giảm 54 US cent (0,8%) xuống 64,95USD/thùng.
Các nhà đầu tư đặt cược vào thị trường dầu mỏ và cân nhắc yếu tố nguồn cung gia tăng của Mỹ với khả năng các nước trong và ngoài OPEC sẽ tiếp tục cắt giảm sản lượng dầu mỏ khai thác theo thỏa thuận đã được triển khai trong hơn 1 năm qua.
Công ty dịch vụ năng lượng Baker Hughes cho biết cuối tuần qua nhiều công ty năng lượng Mỹ đã cắt giảm số lượng giàn khoan dầu lần đầu tiên trong gần 2 tháng qua. Hiện Mỹ là nhà khai thác dầu mỏ nhiều thứ hai thế giới sau Saudi Arabia.
Công ty môi giới Phillip Future có trụ sở tại Singapore cho biết thị trường dầu mỏ đang hướng sự chú ý sang báo cáo hàng tháng của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dẩu mỏ (OPEC) và Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) được công bố trong tuần này để đoán định tình hình cung - cầu dầu mỏ trên toàn cầu, cũng như mức độ tuân thủ cam kết cắt giảm sản lượng của các nước trong và ngoài OPEC.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm sau khi số liệu việc làm lạc quan của Mỹ đẩy các chỉ số chứng khoán đi lên và làm dấy lên đồn đoán rằng Fed sẽ hướng tới nâng tiếp lãi suất trong năm nay.
Giá vàng giao ngay giảm 0,2% xuống còn 1.320,78 USD/ounce, vàng giao tháng 4/2018 giảm 3,2 USD (hay 0,2%) xuống 1.320,80 USD/ounce.
Bộ Lao động Mỹ thông báo lĩnh vực phi nông nghiệp đã tạo mới được 313.000 việc làm trong tháng 2/2018, mức cao nhất kể từ tháng 7/2016; và tỷ lệ thất nghiệp duy trì ổn định ở mức 4,1% trong tháng thứ năm liên tiếp.
Số liệu lạc quan này đã khiến nhiều nhà đầu tư vững tin dự đoán rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất ba lần trong năm nay, từ đó góp phần lấn át những quan ngại của giới đầu tư về khả năng xảy ra một cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và các nền kinh tế lớn khác. Giá vàng luôn nhạy cảm với chính sách tiền tệ của Mỹ, do lãi suất tăng sẽ làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng, đồng thời làm đồng USD tăng giá - điều khiến kim loại quý này trở nên đắt đỏ hơn đối với người mua nắm giữ các đồng tiền khác.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 0,6% xuống còn 16,50 USD/ounce, trong khi giá bạch kim giảm 0,5% và được giao dịch ở mức 959,74 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô giao tháng 5 tăng 0,09 US cent tương đương 0,7% lên 12,93 US cents/lb, sau khi chạm mức thấp nhất 8 tháng rưỡi vào ngày 9/3 (12,75 US cent/lb). Đường trắng giao cùng kỳ hạn giá tăng 2,10 USD tương đương 0,6% lên 359,40 USD/tấn.
Có một số dấu hiệu cho thấy Brazil sẽ tăng sản xuất ethanol từ mia, cũng như thời tiết xấu ở Pháp có thể ảnh hưởng tới sản lượng, nhưng bù lại sản lượng dự báo tăng ở Ấn Độ và Thái Lan.
Đối với cà phê, giá arabia giao tháng 5 giảm 0,7 US cent tương đương 0,58% xuống 1,1945 USD/lb, trong khi robusta giao cùng kỳ hạn giảm 11 USD tương đương 0,6% xuống 1.769 USD/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

61,36

-0,68

-1,1%

Dầu Brent

USD/thùng

64,95

-0,54

-0,8

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.140,00

-550,00

-1,35%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,79

+0,01

+0,32%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

188,89

-0,51

-0,27%

Dầu đốt

US cent/gallon

186,11

-0,36

-0,19%

Dầu khí

USD/tấn

568,00

0,00

0,00%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

55.100,00

-490,00

-0,88%

Vàng New York

USD/ounce

1.324,10

-3,30

-0,25%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.515,00

-10,00

-0,22%

Bạc New York

USD/ounce

16,56

-0,02

-0,11%

Bạc TOCOM

JPY/g

56,60

-0,20

-0,35%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

964,23

+0,62

+0,06%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

979,49

+1,05

+0,11%

Đồng New York

US cent/lb

312,10

-0,30

-0,10%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.913,00

-49,00

-0,70%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.091,00

-29,00

-1,37%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.239,50

-37,50

-1,14%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.375,00

-25,00

-0,12%

Ngô

US cent/bushel

391,00

+0,25

+0,06%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

493,25

+2,50

+0,51%

Lúa mạch

US cent/bushel

266,25

+3,50

+1,33%

Gạo thô

USD/cwt

12,31

-0,02

-0,20%

Đậu tương

US cent/bushel

1.045,50

+4,50

+0,43%

Khô đậu tương

USD/tấn

372,20

+1,80

+0,49%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,72

-0,03

-0,09%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

513,50

+1,10

+0,21%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.546,00

+81,00

+3,29%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

119,45

-0,70

-0,58%

Đường thô

US cent/lb

12,93

+0,09

+0,70%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

138,80

-1,55

-1,10%

Bông

US cent/lb

83,32

+0,04

+0,05%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

486,40

+3,00

+0,62%

Cao su TOCOM

JPY/kg

191,50

-1,20

-0,62%

Ethanol CME

USD/gallon

1,51

+0,00

+0,13%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg