Trên thị trường năng lượng, căng thẳng leo thang ở Syria và dự trữ dầu toàn cầu giảm đã khiến giá dầu duy trì ở mức cao nhất kể từ cuối 2014 trong gần suốt phiên vừa qua. Đóng cửa giao dịch, dầu thô Brent giảm nhẹ 4 USD cent xuống 72,02 USD/thùng, trong khi dầu WTI của Mỹ tăng 25 US cent lên 67,02 USD/thùng.
Giá dầu đã vọt lên mức cao nhất trong vòng gần 3 năm từ hôm 11/4 sau khi Saudi Arabia cho biết đã chặn tên lửa bắn vào Riyadh và Tổng thống Mỹ Donald Trump cảnh báo sẽ có hành động quân sự ở Syria. Những điều này gây lo ngại về khả năng gián đoạn nguồn cung.
Tình hình ở Syria ngày hôm qua vẫn tiếp tục căng thẳng và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.
Trong khi đó, các yếu tố cơ bản cho thấy cung cầu đang cân bằng trở lại. Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) cho biết các kho dự trữ dầu thừa đã giảm đi nhiều bởi nhu cầu tăng và nguồn cung của OPEC giảm. OPEC đã sản xuất khối lượng thấp hơn mục tiêu, vậy nên thế giới phải sử dụng dầu dự trữ để đáp ứng nhu cầu gia tăng. Trong báo cáo mới nhất, tổ chức này cho biết dự trữ dầu của các nước phát triển đã giảm 17,4 triệu thùng trong tháng 2 xuống 2,854 tỷ thùng, chỉ cao hơn khoảng 43 triệu thùng so với mức trung bình của 5 năm qua.
Theo tổng thư ký OPEC, Mohammad Barkindo, lượng dầu dư thừa trên toàn cầu đã giảm đi 9/10 kể từ dầu năm 2017. “Dự trữ ở các kho đã giảm từ mức cao chưa từng có là cao hơn khoảng 400 triệu thùng xuống chỉ khoảng 43 triệu thùng so với mức trung bình của 5 năm”, ông Barkindo cho biết.
OPEC, Nga và một số nước sản xuất ngoài OPEC khác đã bắt đầu kiềm chế nguồn cung kể từ tháng 1/2017. Cam kết của họ sẽ kéo dài tới cuối năm nay, và tháng 6 tới OPEC sẽ họp để quyết định xem có nên hành động tiếp hay không. “Rất nhiều khả năng chúng tôi sẽ kéo dài thỏa thuận này sau năm 2018”, và “Nga sẽ tiếp tục giữ vai trò chủ chốt”, ông Barkindo khẳng định.
Tuy nhiên, báo cáo từ Chính phủ Mỹ vẫn cho thấy dự trữ dầu thô của nước này tăng 3,3 triệu thùng, và sản lượng đạt kỷ lục cao 10,53 triệu thùng/ngày. Các nhà phân tích đang chờ có thêm những thông tin khác về cung – cầu. Nhà quản lý của hãng nghiên cứu Stamford, ông
Gene McGillian cho rằng “Sẽ phụ thuộc vào việc liệu nhu cầu có mạnh như dự kiến hay không”. 
Trong khi đó, giá than luyện cốc tại Trung Quốc giảm 4% trong phiên vừa qua do lo ngại nhu cầu từ ngành thép sụt giảm. Tâm lý lo ngại về căng thẳng leo thang liên quan đến thuế nhập khẩu hàng hóa giữa Mỹ và Trung Quốc tiếp tục đè nặng lên các nhà đầu tư. Than luyện cốc giao tháng 9 trên sàn Đại Liên giảm 3,9% xuống 1.245,50 NDT (179 USD), trong khi than cốc giảm 3% xuống 1.731,50 NDT/tấn. Cả 2 loại đều xuống thấp nhất 2 tuần.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng đã giảm khỏi mức cao nhất 11 tuần do các nhà đầu tư bán chốt lời và USD tăng. Vàng giao ngay giảm 1,1% xuống 1.337,55 USD/ounce, trong khi vàng giao tháng 6 giảm 18,6 USD tương đương 1,3% xuống 1.341,90 USD/ounce.
“Có nhiều người bán chốt lời, và thị trường chứng khoán hồi phục nhẹ”, Chris Gaffney, chủ tịch EverBank cho biết. Ông này cho rằng: “Thị trường về cơ bản vẫn vững do những căng thẳng liên quan tới Syria và Trung Quốc. Tôi cho rằng giá sẽ ở mức khoảng 1.340 USD/ounce”.
Đồng USD đã tăng so với rổ các đồng tiền chủ chốt, khiến cho hàng hóa tính theo đồng tiền này trở nên đắt hơn đối với những nhà đầu tư nắm giữ các loại tiền khác.
Tuy nhiên, thị trường đang được hỗ trợ tích cực bởi lo ngại về căng thẳng quân sự leo thang ở Syria và chiến tranh thương mại Mỹ - Trung. Vàng thường được các nhà đầu tư nhằm tới mỗi khi có bất ổn về tài chính hoặc chính trị, do đó thường tăng giá cùng với đồng yen Nhật và trái phiếu kho bạc Mỹ.
Các Bộ trưởng của Anh đang bàn bạc xem có tham gia cùng Mỹ và Pháp trong hành động quân sự ở Syria trong cuộc đối đầu trực tiếp với Nga hay không. Hôm thứ Tư (11/4), Tổng thống Mỹ đã cảnh báo sẽ tấn công quân sự vào Syria để đáp trả vụ một cuộc tấn công bằng khí độc đã xảy ra ở nước này. Nhà kinh doanh kim loại quý Sam Laughlin thuộc MKS SA dự đoán “Giá có thể lên tới 1.350 USD” nếu những đe dọa trên thực sự xảy ra.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 0,8% xuống 16,49 USD/ounce, sau khi có lúc lên mức cao nhất gần 2 tháng là 16,87 USD. Bạch kim tăng 0,3% lên 928,80 USD/ounce, còn palađi giảm 0,2% xuống 962,22 USD, nhưng tính từ đầu tuần đã tăng hơn 6% do lo ngại nguồn cung từ Nga có thể bị ảnh hưởng sau lệnh trừng phạt của Mỹ.
Trên thị trường kim loại cơ bản, giá nhôm đã lập kỷ lục cao nhất 6 năm do lo ngại nguồn cung sẽ thiếu hụt sau khi Mỹ trừng phạt hãng Rusal của Nga.
Hợp đồng tham chiếu trên sàn London tăng thêm 3,3% lên 2.325 USD/tấn vào lúc đóng cửa, trong phiên có lúc giá chạm 2.331 USD/tấn, cao nhất kể từ tháng 3/2012. Kim loại này đã tăng hơn 15% kể từ thứ Sáu ngày 6/4, khi Mỹ thông báo trừng phạt giới tài phiệt Nga.
“Dòng chảy thương mại mặt hàng nhôm trên toàn cầu sẽ bị gián đoạn”, nhà kinh tế Caroline Bain của Capital Economics cho biết, và thêm rằng: “Trong trung hạn, tôi cho rằng Rusal sẽ tìm được những thị trường tiêu thụ kim loại của mình…có thể là Trung Quốc, nơi mà sản lượng cũng sẽ tăng lên để bù đắp cho sự thiếu hụt”.
Theo các nhà phân tích của CRU, không kể sản lượng của Trung Quốc thì Nga chiếm khoảng 14% lượng cung cấp. Sản lượng nhôm toàn cầu năm nay dự báo ở mức 65 triệu tấn.
Về thông tin liên quan, dự trữ nhôm tại các kho ngoại quan của LME đã tăng 94.450 tấn tương đương 7,5% lên 1.345.225 tấn, cao nhất kể từ cuối tháng 7, phần lớn do lượng cung đến từ các kho của LME Hà Lan đặt tại Vlissingen và Rotterdam. LME sẽ dừng nhận nhôm của Rusal từ ngày 17/4, nhưng kim loại đã ở trong kho trước khi có lệnh trừng phạt sẽ không bị ảnh hưởng.
Tuy nhiên, các ngân hàng và các thương gia sẽ không mạo hiểm nắm giữ bất cứ lượng nhôm nào của Rusal dù đã có từ trước để tránh trường hợp bị trừng phạt thứ cấp, nên sẽ giao hết nhôm về các kho của LME.
Về những kim loại khác, giá kẽm giảm 4,5% xuống 3.095 USD/tấn, đầu phiên có lúc xuống mức thấp nhất 4 tháng, chỉ 3.082,5 USD/tấn. Đồng giảm 1,9% xuống 6.821 USD/tấn, chì giảm 3,2% xuống 2.333 USD/tấn, trong khi thiếc giảm 0,5% xuống 20.900 USD/tấn.
Trên thị trường nông sản, giá đường trắng nhích lên khỏi mức thấp nhất 2 năm rưỡi, với hợp đồng giao tháng 8 tăng 2,4 USD tương đương 0,7% lên 337,60 USD/tấn, sau khi có lúc giảm xuống 332,60 USD/tấn, gần sát mức thấp nhất 2 năm rưỡi là 332,30 của phiên trước đó.
Đường thô giao cùng kỳ hạn giảm 0,01 US cent tương đương 0,1% xuống 12,05 US cents/lb, chỉ nhích nhẹ so với mức thấp nhất 2 năm rưỡi là 2 năm rưỡi là 11,93 US cents.
Đối với mặt hàng cà phê, giá arabica giao tháng 7 tại New York giảm 0,25 US cent tương đương 0,2% xuống 1,20 USD/lb, trong khi robusta tại London tăng 2 USD tương đương 0,1% lên 1.736 USD/tấn.
Mức cộng cà phê Indonesia tuần này tiếp tục thu hẹp khi nguồn cung từ vụ thu hoạch phụ tăng dần, trong khi thị trường Việt Nam tiếp tục trầm lắng. Mức cộng của cà phê robusta loại 4-80 hat lỗi - ở tỉnh Lampung giảm xuống còn 120 USD/tấn so với hợp đồng giao tháng 7 tại London, từ mức +130 USD/tấn cách đây một tuần. Lượng giao dịch trong tuần này khoảng vài nghìn tấn, trong khi vụ thu hoạch chính ở Nam Sumatra dự kiến sẽ bắt đầu vào tháng 6 hoặc 7. Các thương gia nhận định giao dịch sẽ sôi động hơn trong những tuần tới.
Thị trường Việt Nam tiếp tục vắng vẻ vì khách hàng hướng tới mua cà phê Indonesia và Brazil, còn nông dân Việt Nam muốn giữ cà phê lại không bán khi giá chưa đến mức vừa ý.
Hợp đồng giao tháng 7 tại London trong phiên thứ Tư (11/4) đã xuống mức thấp nhất 2 tuần, là 1.730 USD/tấn, gây áp lực giảm giá cà phê tại tỉnh Đắc Lắc xuống 36.500 đồng – 36.700 đồng (1,6 – 1,61 USD)/kg, từ mức 37.300 – 37.600 đồng/kg cách đây một tuần.
Các thương gia Việt Nam báo giá loại 2 - 5% đen vỡ và- ở mức trừ lùi 50 – 100 USD/tấn so với hợp đồng giao tháng 7 tại London, so với mức trừ lùi 50 USD/tấn cách đây một tuần.
Số liệu Hải quan cho thấy xuất khẩu trong tháng 3 đạt 200.210 tấn, tăng 54% so với một tháng trước đây và cao hơn mức 180.000 tấn do Chính phủ thống kê.
Tuy nhiên, các thương gia cho biết con số xuất khẩu cao hơn là những hợp đồng đã ký từ trước, và xuất khẩu sẽ giảm trong những tháng 4, dự k iến chỉ khoảng 100.000 – 140.000 tấn trong tháng 4.
Cao su tiếp tục tăng giá do dầu duy trì ở mức cao. Cao su kỳ hạn giao tháng 9 trên sàn Tokyo tăng 1,1 yen lên 183 JPY (1,71 USD)/kg. Tuy nhiên, dự trữ duy trì cao gây áp lực giảm giá tại Thượng Hải khiến đà tăng tại Tokyo bị hạn chế. Giá tại Thượng Hải giảm 65 NDT xuống 11.480 NDT (1.828 USD)/tấn. Số liệu của Hiệp hội Cao su Nhật Bản cho thấy dự trữ cao su thô tại các cảng Nhật tới ngày 31/3 đạt 14.999 tấn, chỉ giảm nhẹ 0,3% so với thời điểm công bố trước đó. Dự trữ tại Trung Quốc cũng vẫn cao.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

67,02

+0,25

+0,28%

Dầu Brent

USD/thùng

72,02

-0,04

-0,06%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

44.350,00

-40,00

-0,09%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,69

+0,01

+0,19%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

205,94

+0,48

+0,23%

Dầu đốt

US cent/gallon

208,49

+0,11

+0,05%

Dầu khí

USD/tấn

636,50

-7,75

-1,20%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

60.560,00

+190,00

+0,31%

Vàng New York

USD/ounce

1.340,60

-1,30

-0,10%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.594,00

-37,00

-0,80%

Bạc New York

USD/ounce

16,48

+0,01

+0,04%

Bạc TOCOM

JPY/g

57,20

0,00

0,00%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

929,14

+0,99

+0,11%

Palladium giao ngay

USD/ounce

965,00

-1,38

-0,14%

Đồng New York

US cent/lb

306,10

-0,25

-0,08%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.821,00

-129,00

-1,86%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.325,00

+75,00

+3,33%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.094,00

-144,00

-4,45%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.900,00

-100,00

-0,48%

Ngô

US cent/bushel

397,25

+1,50

+0,38%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

498,25

-6,00

-1,19%

Lúa mạch

US cent/bushel

237,50

0,00

0,00%

Gạo thô

USD/cwt

12,89

+0,08

+0,62%

Đậu tương

US cent/bushel

1.071,75

+13,00

+1,23%

Khô đậu tương

USD/tấn

387,40

+3,10

+0,81%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,90

+0,09

+0,28%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

528,00

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.564,00

-16,00

-0,62%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

120,00

-0,25

-0,21%

Đường thô

US cent/lb

12,13

+0,01

+0,08%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

139,95

+0,70

+0,50%

Bông

US cent/lb

83,00

-0,41

-0,49%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

524,30

+1,20

+0,23%

Cao su TOCOM

JPY/kg

182,90

-0,10

-0,05%

Ethanol CME

USD/gallon

1,50

+0,01

+0,74%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg