Trên thị trường năng lượng, giá dầu biến động trái chiều. Dầu Brent kỳ hạn tháng 9 tăng 1,05 USD lên 74,45 USD/thùng nhưng dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 8 giảm 5 US cent xuống 70,33 USD/thùng.
Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) trong báo cáo tháng công bố ngày 12/7 cảnh báo nguồn cung dầu dự phòng của thế giới “có thể bị kéo căng đến mức giới hạn”, do sản lượng sụt giảm tại một số nước; “Sản lượng tăng từ các nước vùng Vịnh và Nga, song đó là nhờ việc tăng công suất dự phòng của thế giới, và điều này sẽ chỉ có giới hạn”. Nỗi lo về sự gián đoạn nguồn cung từ Venezuela đang tăng lên.
Lo lắng về gián đoạn nguồn cung tại Venezuela - một thành viên của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) - đã đẩy giá dầu tăng, theo nhận định của John Kilduff, một đối tác tại Again Capital Management. Ông John Kilduff cho rằng bất ổn về nguồn cung đang diễn ra, sau khi một số nước đã bị sụt giảm sản lượng trong mấy tuần gần đây, bao gồm Venezuela, Nauy, Canada và Libya. Theo ông Kilduff, “đang có “lỗ hổng” về nguồn cung, điều này hỗ trợ giá dầu và có thể tình hình sẽ còn tiếp diễn”. Mỹ hiện đang thúc đẩy việc sẽ áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với Iran và theo ông Kilduff, đây cũng là yếu tố hỗ trợ giá “vàng đen”.
Mặc dù ngày càng có nhiều dấu hiệu về niềm tin suy giảm và người tiêu dùng không ưa giá dầu tăng, IEA giữ nguyên quan điểm rằng mức tăng nhu cầu đối với dầu là 1,4 triệu thùng dầu/ngày trong năm 2018, và một lượng tương đương như vậy trong năm 2019.Chuyên gia phân tích cấp cao Brian LaRose của ICAP-TA dự đoán giá dầu Brent có thể trở lại mức trên 80 USD/thùng vào cuối năm nay, và nếu giá loại dầu này giảm xuống dưới 70 USD/thùng thì khả năng quá trình hồi phục sẽ còn diễn ra nhanh hơn.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng sau khi đồng USD giảm khỏi mức cao nhất 6 tháng so với đồng yen Nhật. Giá vàng giao ngay tăng 0,4% lên 1.247,07 USD/ounce, sau khi giảm 1% trong phiên trước đó xuống 1.240,89 USD/ounce, mức thấp nhất trong hơn một tuần; vàng giao tháng 8 tăng 2,2 (0,2%) lên 1.246,60 USD/ounce.
Các nhà đầu tư vẫn đang theo dõi tranh chấp thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới. Mặc dù vàng thường là tài sản được hưởng lợi trong thời kỳ bất ổn, song ở thời điểm hiện tại vàng không được các nhà đầu tư chú ý nhiều.
Các chuyên gia lưu ý rằng dù rời khỏi mức cao, đồng bạc xanh tại thị trường Bắc Mỹ vẫn giữ giá ở gần mức cao nhất kể từ ngày 3/7. Một số nhà quan sát dự báo nếu nền kinh tế có dấu hiệu yếu đi và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) làm chậm lại tiến trình nâng lãi suất, đồng USD có thể sẽ yếu đi và tác động tích cực đến giá vàng.
Theo Chris Gaffney, người đứng đầu mảng thị trường thế giới của TIAA Bank, trong bối cảnh các yếu tố kỹ thuật trên thị trường không thuận lợi, giá vàng sẽ vẫn chịu sức ép. Thậm chí, giá mặt hàng còn có thể để tuột mốc 1.200 USD/ounce.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 1,4% xuống 15,97 USD/ounce, sau khi có lúc rơi xuống 15,72 USD/ounce, thấp nhất kể từ giữa tháng 12/2017; bạch kim tăng 1,5% lên 837,25 USD/ounce, sau khi vào đầu phiên rơi xuống 821,25 USD/ounce, mức thấp nhất trong hơn một tuần.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá hầu hết tăng trở lại, ngoại trừ nhôm. Trong nhóm này, nickel tăng mạnh nhất, tăng 3,8% lên 14.410 USD/tấn, cao nhất trong vòng một tuần. Đồng cũng tăng giá thêm 1,3% lên 6.227,50 USD/tấn, mặc dù xu hướng hồi phục bị kiềm chế bởi khả năng nguồn cung sẽ tăng lên sau khi Indonesia vừa đạt được thỏa thuận với Freeport-McMoRan Inc và Rio Tinto về việc mua thêm cổ phần để có quyền trong nhóm kiểm soát mỏ đồng lớn thứ 2 thế giới, Grasberg. Các kim loại khác như chì, kẽm và thiếc tăng nhẹ (lần lượt tăng 0,7%, 0,7% và 1,3% lên 2.215 USD/tấn, 2.581 USD/tấn và 19.630 USD/tấn). Tuy nhiên, lo ngại về căng thẳng thương mại Mỹ - Trung tiếp tục bao trùm thị trường kim loại, do đó giá nhôm vẫn giảm tiếp (giảm 0,9% xuống 2.042 USD/tấn).
Giá thép tại Trung Quốc tiếp tục tăng do lo ngại nguồn cung có thể khan hiếm vì Chính phủ nước này tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường. Thép cây kỳ hạn giao tháng 10 trên sàn Thượng Hải phiên vừa qua có lúc tăng 3,1% lên 3.990 NDT (599 USD)/tấn, mức cao nhất kể từ tháng 9/2017; và kết thúc phiên vẫn tăng 2,7% so với phiên trước lên 3.967 NDT/tấn. Thép giao ngay cũng tăng 0,3% lên 4.320,36 NDT/tấn. Sản lượng thép thô hàng ngày tại các công ty lớn trong giai đoạn 21-30/6/2018 đạt 1,96 triệu tấn, giảm 1,8% so với giữa tháng 6/2018; tồn trữ thép tại các nhà máy cùng giai đoạn cũng giảm 24.700 tấn xuống 11,42 triệu tấn, theo số liệu của Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc.
Trên thị trường nông sản, đường giảm xuống mức thấp nhất 2 tháng rưỡi do hoạt động bán tháo mạnh mẽ. Đường thô giao tháng 10/2018 giảm 0,21 US cent tương đương 1,9% xuống 11,08 US cent/lb, trong khi đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 2,30 USD tương đương 0,7% xuống 329 USD/tấn. Mặc dù thời tiết ở Brazil bị khô hạn có thể ảnh hưởng tới sản lượng mía nước này, nhưng thị trường lại đang chú ý hơn tới thông tin thế giới dư cung đường. USDA vừa công bố báo cáo tháng 7/2018, trong đó dự báo tỷ lệ dự trữ-sử dụng đường sẽ ở mức 13,5, tăng so với 11,5 đưa ra cách đây một tháng mặc dù thấp hơn mức 15 của năm marketing trước.
Cà phê robusta giao tháng 9/2018 tăng 9 USD tương đương 0,5% lên 1.681 USD/tấn, trong khi arabica giao cùng kỳ hạn giảm 0,5 US cent tương đương 0,5% xuống 1,1155 USD/lb. Thị trường cà phê châu Á tuần này vắng vẻ do giá thấp không đủ hấp dẫn người bán và Indonesia vừa trải qua kỳ nghỉ dài ngày và các cuộc bầu cử cấp khu vực. Các thương gia cho biết cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung chưa ảnh hưởng tới thị trường cà phê.
Tại Tây Nguyên, cà phê nhân xô hiện giá 37.9000 đồng (1,50 – 1,61 USD)/kg, so với 35.000 – 35.000 đồng cách đây một tuần; robusta loại 2 (5% đen và vỡ) giá thấp hơn 80 – 100 USD/tấn so với hợp đồng kỳ hạn tháng 9/2018 tại London (so với 70-90 USD/tấn cách đây một tuần). Vụ thu hoạch tại Việt Nam đã kết thúc và lượng tồn trữ trong dân không còn nhiều. Tại Indonesia, robusta loại 4 (80 hạt lỗi) giá cao hơn 120 USD/tấn so với hợp đồng giao tháng 9/2018 tại London.
Giá đậu tương hồi phục trở lại vào lúc cuối phiên mặc dù đầu phiên vẫn tiếp tục giảm, kết thúc ngày tăng 3,4 US cent lên 8,33-3/4 USD/bushel (hợp đồng giao tháng 8/2018) và tăng 0,1 USD lên 8,49-1/4 USD/bushel. Tuy nhiên, dự báo thị trường này sẽ còn tiếp tục biến động mạnh trong những ngày tới. Trung Quốc mới đây đã hạ dự báo về nhập khẩu đậu tương niên vụ 2018/19, giảm 1,8 triệu tấn xuống 93,85 triệu tấn, đồng thời cảnh báo giá tăng do xung đột với Mỹ có thể kìm hãm nhu cầu vì nông dân chuyển hướng sang sử dụng các nguyên liệu khác thay thế đậu tương trong thành phần thức ăn chăn nuôi.
Đối với cây công nghiệp, giá chè tại Bangladesh tăng trong phiên đấu giá tuần này do nhu cầu mạnh đối với chè lá chất lượng cao mặc dù khối lượng chào bán tăng lên. Tại thành phố cảng Chittagong, giá tuần này trung bình ở mức 257,73 taka (2,7 USD)/kg, so với 251,20 taka của phiên trước. Sản lượng chè Bangladesh năm 2017 đã giảm xuống mức gần 79 triệu kg, từ mức cao kỷ lục 85 triệu kg của năm trước do mưa quá nhiều. Từ nước xuất khẩu chè lớn thứ 5 thế giới vào thập kỷ 90 của thế kỷ trước, nước Nam Á này hiện trở thành nhà nhập khẩu ròng mặt hàng này bởi tiêu thụ nội địa tăng theo xu hướng tăng trưởng kinh tế.
Giá bông tăng sau khi Mỹ hạ dự báo về triển vọng sản lượng bông Mỹ và thế giới, trong khi nâng dự báo về tiêu thụ bông toàn cầu. Hợp đồng bông giao tháng 12/2018 tăng 4 US cent lên 88,54 US cent/lb, quanh mức cao nhất 3 tuần. USDA hạ dự báo sản lượng bông Mỹ niên vụ 2018/19 xuống 18,50 triệu kiện (1 kiện = 480 lb) từ mức 19,50 triệu kiện dự báo trước đây, dự trữ cuối vụ cũng được điều chỉnh giảm 700.000 kiện xuống 4 triệu kiện. Đồng thời, dự báo về sản lượng bông thế giới bị điều chỉnh giảm 290.000 kiện xuống 120,11 triệu kiện, trong khi về tiêu thụ bông toàn cầu tăng thêm 1,6 triệu kiện lên 126,95 triệu kiện sau khi xem xét điều chỉnh mức tiêu thụ của Trung Quốc- nước tiêu thụ sợi thiên nhiên hàng đầu thế giới – và cho rằng nhập khẩu vào thị trường này chắc chắn sẽ tăng lên.
Giá cao su trên 2 sàn Tokyo và Thượng Hải đã hồi phục nhẹ trong phiên vừa qua theo xu hướng hồi phục chung trên thị trường chứng khoán và hàng hóa thế giới, mặc dù thị trường vẫn lo ngại về cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung. Cao su giao tháng 12/2018 tại Tokyo tăng 0,6 JPY lên 172,6 JPY (1,54 USD)kg; cao su giao tháng 9/2018 trên sàn Thượng Hải tăng 60 NDT lên 10.355 NDT (1.554 USD)/tấn. Cao su RSS3 Thái Lan hiện có giá 1,51 USD/kg, trong khi loại SMR20 Malaysia giá 1,31 USD/kg.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

70,33

-0,05

-0,08%

Dầu Brent

USD/thùng

74,45

+1,05

+1,43%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

49.920,00

+190,00

+0,38%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,80

+0,00

+0,07%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

206,84

-0,33

-0,16%

Dầu đốt

US cent/gallon

211,49

-0,82

-0,39%

Dầu khí

USD/tấn

641,00

-23,75

-3,57%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

67.860,00

+80,00

+0,12%

Vàng New York

USD/ounce

1.246,50

-0,10

-0,01%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.500,00

+25,00

+0,56%

Bạc New York

USD/ounce

15,97

-0,01

-0,04%

Bạc TOCOM

JPY/g

57,50

+0,60

+1,05%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

841,57

-0,38

-0,05%

Palladium giao ngay

USD/ounce

949,37

-2,22

-0,23%

Đồng New York

US cent/lb

277,60

-0,10

-0,04%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.228,00

+83,00

+1,35%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.042,00

-18,00

-0,87%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.581,00

+18,00

+0,70%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.650,00

+275,00

+1,42%

Ngô

US cent/bushel

359,25

+6,00

+1,70%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

484,50

+12,75

+2,70%

Lúa mạch

US cent/bushel

241,25

+1,50

+0,63%

Gạo thô

USD/cwt

11,92

+0,03

+0,25%

Đậu tương

US cent/bushel

849,25

+1,00

+0,12%

Khô đậu tương

USD/tấn

327,70

0,00

0,00%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,69

-0,13

-0,45%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

492,80

-1,20

-0,24%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.485,00

+5,00

+0,20%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

111,55

-0,50

-0,45%

Đường thô

US cent/lb

11,08

-0,21

-1,86%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

167,60

+0,65

+0,39%

Bông

US cent/lb

88,54

+4,00

+4,73%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

520,10

-1,70

-0,33%

Cao su TOCOM

JPY/kg

173,40

+0,80

+0,46%

Ethanol CME

USD/gallon

1,41

+0,01

+0,93%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg