Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng trong bối cảnh lượng dầu thô dự trữ của Mỹ tuần qua giảm, làm dịu bớt những lo ngại về tình hình nguồn cung dư thừa trên thị trường.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao tháng 4/2019 tăng 1,39 USD lên 58,26 USD/thùng; dầu Brent Biển Bắc giao tháng 5/2019 tăng 0,88 USD lên 67,55 USD/thùng.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cùng ngày cho biết lượng dầu thô tại các kho dự trữ thương mại ở nước này trong tuần trước đã giảm 3,9 triệu thùng so với tuần trước đó, xuống 449,1 triệu thùng. Tuy nhiên, con số này vẫn cao hơn 2% so với mức bình quân 5 năm trong thời điểm này của năm. EIA cũng cho biết sản lượng dầu thô Mỹ giảm từ mức cao kỷ lục, giảm 100.000 thùng mỗi ngày xuống 12 triệu thùng/ngày trong tuần vừa qua.
EIA cũng dự báo sản lượng dầu thô của Mỹ sẽ đạt trung bình 12,3 triệu thùng/ngày trong năm 2019 và 13 triệu thùng/ngày năm 2020, với phần lớn mức tăng đến từ khu vực Permian ở Texas và New Mexico.
Trong khi đó, tình trạng mất điện trên diện rộng ở Venezuela tiếp tục ảnh hưởng tới xuất khẩu dầu của quốc gia này, trong bối cảnh xuất khẩu của họ vốn đã bị giảm bởi lệnh trừng phạt của Mỹ. Điều này khiến cho nguồn cung trên thị trường càng thêm khan hiếm.
Chủ tịch Lipow Oil Associates ở Houston, ông Andrew Lipow dự báo "Giá dầu WTI sẽ đạt 60 USD/thùng trong 2 tuần tới vì dự trữ của Mỹ đang bị ảnh hưởng bởi thiếu dầu nhập khẩu từ Venezuela".
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng chạm mức cao nhất gần 2 tuần, khi số liệu mới về kinh tế Mỹ củng cố quan điểm nước này sẽ kiên nhẫn với chính sách tiền tệ.
Cuối phiên giao dịch, vàng giao ngay tăng 0,5% lên 1.308,83 USD/ounce, mức cao nhất kể từ ngày 1/3/2019; vàng giao sau cũng tăng 0,9% lên 1.309,3 USD/ounce.
Thống kê cho thấy trong tháng 2/2019, giá sản xuất nội địa tại Mỹ tăng 1,9% so với cùng kỳ năm ngoái, mức tăng thấp nhất kể từ tháng 6/2017. Theo các chuyên gia, số liệu đáng thất vọng về giá sản xuất và lạm phát sẽ là cơ sở để Cục Dữ trữ Liên bang Mỹ (Fed) giữ nguyên lãi suất, qua đó hỗ trợ nhu cầu tiêu thụ vàng. Dự kiến, Fed sẽ nhóm họp vào trong hai ngày 19-20/3/2019.
Bên cạnh đó, diễn biến mới xung quanh tiến trình nước Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (hay còn gọi là Brexit) cũng là yếu tố hỗ trợ giá vàng. Đêm 13/3/2019 theo giờ Việt Nam, với 312 phiếu chống và 308 phiếu thuận, Quốc hội Anh đã bỏ phiếu loại phương án Brexit mà không có thỏa thuận. Động thái này đồng nghĩa với việc nước Anh sẽ phải đứng trước lựa chọn lùi thời hạn Brexit. Các kim loại quý khác cũng đồng loạt đi lên. Palađi tăng 0,9% lên 1.555,01 USD/ounce, bạch kim tăng 0,1% lên 838 USD/ounce, còn bạc tăng 0,1% lên 15,46 USD/ounce.
Tuy nhiên, các nhà phân tích lo ngại sẽ xảy ra một đợt bán vàng kiếm lời sau khi giá vượt 1.300 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá kẽm tiếp tục hướng lên để đạt mức cao nhất 8 tháng trong phiên vừa qua do lượng kẽm lưu kho của sàn London (LME) giảm (hiện là 58.950 tấn, thấp nhất kể từ tháng 10/2007) gây lo ngại mức thiếu cung sẽ tăng lên.
Kẽm hợp đồng tham chiếu giá tăng 0,4% lên 2.848 USD/tấn vào cuối phiên, trước đó có lúc đạt 2.848,5 USD/tấn – cao nhất kể từ tháng 7/2018. Mức cộng hợp đồng kẽm giao ngay so với hợp đồng 3 tháng đã lên tới 52 USD/tấn, cao nhất kể từ 8/1/2019.
Kẽm đã trở thành kim loại tăng giá nhiều thứ 2 trong năm nay, với mức tăng 15%, sau khi giảm 26% trong năm 2018.
Nhôm cũng tăng giá 1,8% trong phiên vừa qua, lên 1.906 USD/tấn sau khi hãng Norsk Hydro của Nauy thông báo sản lượng tại nhà máy Neuss của họ ở Đức chắc chắn sẽ giảm 10.000 – 20.000 tấn do một sự cố.
Giá thép cây tại Trung Quốc tiếp tục tăng bởi nhu cầu thép xây dựng mạnh lên. Hợp đồng kỳ hạn giao tháng 5/2019 trên sàn Thượng Hải tăng 1,6% lên 3.842 CNY (572,55 USD)/tấn trước khi kết thúc phiên ở mức 3.790 CNY (tăng 0,2%). Thép cuộn cán nóng cũng tăng 1,1% lên 3.793 CNY, nhưng không giữ được giá đó đến lúc đóng cửa, và kết thúc phiên giảm nhẹ 0,5% xuống 3.731 CNY/tấn.
Quặng sắt cũng tương tự như thép cuộn cán nóng, trong phiên có lúc tăng mạnh 1,7% lên 616 CNY/tấn, nhưng lúc đóng cửa giảm 0,3% xuống 603,5 CNY/tấn. Mặt hàng này ngày 12/2/2019 đã lên tới 657,5 CNY sau vụ vỡ đập chứa chất thải của Vale, nhưng từ đó lên xuống thất thường.
Với mặt hàng đất hiếm, vốn là nhà sản xuất kim loại hiếm số 1 thế giới, năm 2018 Trung Quốc cũng giành cả vị trí nước nhập khẩu đất hiếm lớn nhất thế giới. Năm vừa qua, Trung Quốc tăng xuất khẩu đất hiếm thêm 4% so với năm trước đó, lên 53.000 tấn, và đồng thời cũng đứng đầu về nhập khẩu mặt hàng này với 41.400 tấn (tăng 167% so với năm 2017), do chính sách kiểm soát chặt chẽ hơn việc sản xuất bất hợp pháp mặt hàng này. So với trước 2015, nhập khẩu trong năm vừa qua đã tăng gấp 10 lần.
Trên thị trường nông sản, đường và cà phê đảo chiêu tăng. Giá cà phê arabica tăng 1,65 UScent tương đương 1,7% lên 97,65 UScent/lb (từ mức thấp nhất 13 năm ở phiên trước đó). Tuy nhiên, robusta vẫn giảm 7 USD tương đương 0,5% xuống 1.518 USD/tấn.
Mặc dù hồi phục song việc đồng real Brazil giảm so với USD sau khi số liệu từ Brazil cho thấy sản lượng công nghiệp trong tháng 1/2019 giảm nhiều hơn dự đoán đã cản trở đà đi lên của arabica.
Đường thô tăng 0,03 UScent tương đương 0,2% lên 12,36 UScent/lb. Tuy nhiên, xu hướng tăng khó duy trì bền vững khi sản lượng ở khu vực Trung Nam Brazil (trong vụ bắt đầu từ tháng 4/2019) được Datagro dự báo sẽ đạt 29,7 triệu tấn, nhiều hơn mức 26,4 triệu tấn dự báo hồi tháng 10 năm ngoái.
Trong khi đó tại Pháp, Chính phủ yêu cầu hãng sản xuất đường của Đức là Suedzucker xem xét lại các kế hoạch thu hẹp quy mô hoạt động tại 3 cơ sở sản xuất của hãng ở nước Pháp, cho rằng Suedzucker không thể bắt công nhân Pháp phải gánh hậu quả của việc hãng này tái cấu trúc sau khi làm ăn thua lỗ.
Giá cao su trên sàn Tokyo – tham chiếu cho toàn thị trường Châu Á – tăng vào đầu phiên nhưng nhanh chóng giảm sau đó do chứng khoán Châu Á và cao su Thượng Hải giảm giá.
Cuộc bỏ phiếu ở Anh về kế hoạch "ly hôn" Liên minh Châu Âu thất bại lần 2 gây lo ngại nhu cầu sụt giảm càng tăng áp lực lên thị trường này.
Kết thúc phiên vừa qua, cao su giao tháng 8/2019 trên sàn Tokyo giảm 2,1 JPY tương đương 1,1% xuống 197,1 JPY (1,8 USD)/kg, mặc dù đầu phiên có lúc đạt 201,2 JPY.
Trên sàn Thượng Hải, cao su giao tháng 5/2019 giảm 185 CNY xuống 12.005 CNY (1.789 USD)/tấn vào cuối phiên, sau khi có lúc xuống chỉ 11.970 CNY (thấp nhất 3 tuần).
Giá dầu cọ Malaysia giảm phiên thứ 6 liên tiếp do dự báo nhu cầu từ Ấn Độ - nước nhập khẩu hàng đầu thế giới – sẽ sụt giảm và sản lượng của nước này tăng lên.
Trên sàn Bursa (Malaysia), hợp đồng tham chiếu - giao sau 3 tháng – giảm 1,3% xuống 2.089 ringgit/tấn, thấp nhất kể từ giữa tháng 12 năm ngoái.
Nhu cầu dầu cọ toàn cầu ở niên vụ 2019/20 được dự báo là có thể sụt giảm lần đầu tiên trong vòng 2 thập kỷ do nguồn cung hạt có dầu nội địa tại Ấn Độ gia tăng và nhu cầu từ Châu Âu và Trung Quốc chậm lại.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

58,36

+0,10

+0,17%

Dầu Brent

USD/thùng

67,55

+0,88

+1,32%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

45.780,00

+470,00

+1,04%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,84

+0,02

+0,85%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

186,86

+1,18

+0,64%

Dầu đốt

US cent/gallon

199,55

+0,34

+0,17%

Dầu khí

USD/tấn

609,25

+1,25

+0,21%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

61.550,00

+330,00

+0,54%

Vàng New York

USD/ounce

1.309,70

+0,40

+0,03%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.669,00

+15,00

+0,32%

Bạc New York

USD/ounce

15,47

+0,01

+0,06%

Bạc TOCOM

JPY/g

55,40

+0,20

+0,36%

Bạch kim

USD/ounce

843,90

+0,23

+0,03%

Palađi

USD/ounce

1.553,61

-0,73

-0,05%

Đồng New York

US cent/lb

293,40

-0,15

-0,05%

Đồng LME

USD/tấn

6.472,00

+65,00

+1,01%

Nhôm LME

USD/tấn

1.873,00

+26,00

+1,41%

Kẽm LME

USD/tấn

2.838,00

+100,00

+3,65%

Thiếc LME

USD/tấn

21.325,00

+275,00

+1,31%

Ngô

US cent/bushel

366,50

+0,75

+0,21%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

447,25

-5,75

-1,27%

Lúa mạch

US cent/bushel

269,25

+1,25

+0,47%

Gạo thô

USD/cwt

10,83

+0,10

+0,88%

Đậu tương

US cent/bushel

901,00

+4,00

+0,45%

Khô đậu tương

USD/tấn

304,70

+1,70

+0,56%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,93

-0,06

-0,20%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

458,30

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.216,00

-1,00

-0,05%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

97,65

+1,65

+1,72%

Đường thô

US cent/lb

12,36

+0,03

+0,24%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

123,45

-0,05

-0,04%

Bông

US cent/lb

75,72

+0,87

+1,16%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

395,80

-3,50

-0,88%

Cao su TOCOM

JPY/kg

197,30

+0,20

+0,10%

Ethanol CME

USD/gallon

1,33

+0,02

+1,45%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters, CafeF