Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm mạnh sau số liệu cho thấy lượng dầu lưu kho và dự trữ sản phẩm chưng cất của Mỹ lập kỷ lục.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) kỳ hạn giao tháng 8/2016 trên sàn New York giảm 2,05 USD, tương ứng 4,4%, xuống 44,75 USD/thùng, thấp nhất kể từ 10/5. Giá dầu Brent giao tháng 9/2016 trên sàn London giảm 2,21 USD, tương đương 4,6%, xuống 46,26 USD/thùng.
Theo số liệu của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) công bố hôm 13/7, lượng dầu lưu kho của Mỹ trong tuần kết thúc vào 8/7 giảm 2,5 triệu thùng nhưng nguồn cung xăng bất ngờ tăng 1,2 triệu thùng và dự trữ sản phẩm chưng cất, kể cả diesel và dầu sưởi, tăng 4,1 triệu thùng. Tổng nguồn cung thương mại dầu thô và sản phẩm lọc dầu của Mỹ tăng 7,1 triệu thùng lên 1,38 triệu thùng, cao nhất kể từ năm 1990.
Số liệu của EIA khiến giới đầu tư lo ngại rằng tình trạng thừa cung dầu thô toàn cầu đã chuyển sang thừa cung sản phẩm lọc dầu.
Cũng theo số liệu của EIA, sản lượng dầu thô của Mỹ tuần qua tăng nhẹ khi sản lượng dầu tại Alaska tăng. Trong khi đó, các nhà máy lọc dầu, tuy có giảm công suất, nhưng vẫn hoạt động ở mức cao kỷ lục. Theo một số nhà phân tích, tình trạng thừa cung sản phẩm lọc dầu sẽ khiến các nhà máy lọc dầu phải giảm công suất, đẩy tăng lượng dầu lưu kho.
Một số nhà phân tích cảnh báo rằng các bể chứa sản phẩm chưng cất tại một số khu vực đang dần đạt công suất tối đa, buộc phải hạ giá để thu hút thêm người mua.
Giá dầu Mỹ dao động ở 45-50 USD/thùng trong những tuần gần đây khi giới đầu tư cân nhắc số liệu về lượng dầu lưu kho và đồn đoán sản lượng dầu thô tại một số khu vực trên thế giới sẽ giảm, giúp xoa dịu tình trạng thừa cung toàn cầu.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng hồi phục từ mức đáy 2 tuần, khi triển vọng kích thích kinh tế làm tăng khẩu vị của nhà đầu tư, USD suy yếu.
Giá vàng giao ngay tăng 0,8% lên 1.342,41 USD/ounce. Giá vàng giao tháng 8/2016 tăng 0,6% lên 1.343,6 USD/ounce.
USD giảm 0,2% so với các đồng tiền chủ chốt trong giỏ tiền tệ.
Chính sách nới lỏng tiền tệ đang hỗ trợ giá vàng và chứng khoán khi lãi suất thấp khuyến khích nhà đầu tư lựa chọn tài sản không phụ thuộc vào lợi tức.
Theo một số nhà phân tích, giá vàng có thể tiếp tục được hưởng lợi do những bất ổn kinh tế tại Anh và châu Âu sau khi sự kiện Brexit cũng như các biện pháp nới lỏng định lượng, đồng nghĩa với lãi suất thấp được áp dụng.
Giá vàng đã tăng khoảng 100 USD/ounce kể từ khi người dân Anh bỏ phiếu ra khỏi EU khi các nhà đầu tư đổ tiền vào tài sản trú ẩn an toàn.
Bất chấp số liệu việc làm, công bố hôm 8/7, tốt hơn dự đoán, Fed không nên vội vàng nâng lãi suất, 2 quan chức cao cấp của Fed cho biết.
Trong số các kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 1,2% lên 20,36 USD/ounce, giá bạch kim tăng 0,9% lên 1.095,6 USD/ounce và giá palladium tăng 3,6% lên 647,2 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại cơ bản, giá đồng tăng lên 5.000 USD/tấn, mức cao nhất kể từ cuối tháng 4 sau số liệu cho thấy nhập khẩu vào Trung Quốc trong tháng 6 vững và hy vọng bắc Kinh sẽ tung thêm các biện pháp kích thích kinh tế.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê đồng loạt tăng. Robusta trên sàn London tăng 6-7 USD/tấn. Arabica trên sàn New York tăng 0,25-0,35 cent/lb.
Liên đoàn Cà phê Colombia dự đoán xuất khẩu cà phê của nước này trong tháng 7 có thể giảm 50% xuống 600.000 bao do cuộc đình công của tài xế xe tải - bắt đầu hơn 5 tuần trước, gây gián đoạn hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu.
Trong một diễn biến khác, Cooxupe, hợp tác xã cà phê hàng đầu Brazil, cho biết, đến nay nông dân cà phê của hợp tác xã đã thu hoạch được 43,3% vụ mới.
Giá hàng hóa thế giới

 

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

44 ,75

-2,5

-4,4%

Dầu Brent

USD/thùng

46,26

-2,21

-4,6%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

29.500 ,00

-880 ,00

-2 ,90%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2 ,76

+0 ,02

+0 ,80%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

138 ,85

+1 ,01

+0 ,73%

Dầu đốt

US cent/gallon

138 ,93

+0 ,84

+0 ,61%

Dầu khí

USD/tấn

406 ,75

+3 ,00

+0 ,74%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

42.100 ,00

-850 ,00

-1 ,98%

Vàng New York

USD/ounce

1.342 ,80

-0 ,80

-0 ,06%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.474 ,00

+14 ,00

+0 ,31%

Bạc New York

USD/ounce

20 ,39

-0 ,02

-0 ,11%

Bạc TOCOM

JPY/g

67 ,90

0 ,00

0 ,00%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.093 ,70

-3 ,39

-0 ,31%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

644 ,50

-0 ,27

-0 ,04%

Đồng New York

US cent/lb

223 ,10

-0 ,90

-0 ,40%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

4.938 ,00

+69 ,00

+1 ,42%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.673 ,00

-3 ,00

-0 ,18%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.179 ,00

-14 ,50

-0 ,66%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

17.970 ,00

-20 ,00

-0 ,11%

Ngô

US cent/bushel

364 ,50

+2 ,50

+0 ,69%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

440 ,75

+1 ,00

+0 ,23%

Lúa mạch

US cent/bushel

208 ,25

+0 ,25

+0 ,12%

Gạo thô

USD/cwt

10 ,72

+0 ,04

+0 ,33%

Đậu tương

US cent/bushel

1.105 ,50

+0 ,25

+0 ,02%

Khô đậu tương

USD/tấn

385 ,10

+0 ,60

+0 ,16%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31 ,14

-0 ,10

-0 ,32%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

482 ,50

+0 ,30

+0 ,06%

Cacao Mỹ

USD/tấn

3.143 ,00

+29 ,00

+0 ,93%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

147 ,65

+0 ,25

+0 ,17%

Đường thô

US cent/lb

19 ,48

-0 ,24

-1 ,22%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

181 ,10

+4 ,30

+2 ,43%

Bông

US cent/lb

72 ,41

-0 ,74

-1 ,01%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

327 ,10

+2 ,60

+0 ,80%

Cao su TOCOM

JPY/kg

154 ,60

-3 ,10

-1 ,97%

Ethanol CME

USD/gallon

1 ,59

+0 ,00

+0 ,19%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg