Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm do lo ngại nhu cầu dầu thế giới sẽ tăng trưởng chậm lại. Kết thúc phiên, dầu Brent giảm 0,20 USD (0,3%) xuống 72,61 USD/thùng, dầu ngọt nhẹ (WTI) sụt mất 0,42 USD (0,7%) xuống 67,2 USD/thùng. Trong phiên có lúc giá giảm mạnh hơn 1 USD/thùng sau khi công ty nghiên cứu thị trường Genscape công bố báo cáo cho thấy lượng dầu trữ trong tại trung tâm giao chuyển dầu WTI ở Cushing, Oklahoma, đã tăng khoảng 1,7 triệu thùng trong tuần tính đến ngày 10/8/2018.
Các kho dự trữ dầu thô tại Cushing đang cạn dần, một phần là do nhà máy tinh chế dầu Syncrude ở Canada tạm dừng hoạt động, qua đó làm giảm lưu lượng dầu thô được chuyển vào trung tâm này. Nhà máy trên đã bắt đầu sản xuất trở lại và dự kiến sẽ phục hồi công suất hoàn toàn vào tháng Chín này.
Trong khi đó, cuộc khủng hoảng tài chính tại Thổ Nhĩ Kỳ đã làm tăng nguy cơ “lây lan” ra các nền kinh tế mới nổi vì đã khiến một loạt các đồng nội tệ như đồng rand của Nam Phi, peso của Argentina và Mexico, và đồng ruble của Nga đi xuống.
Cuộc khủng hoảng tại Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã làm giảm giá cổ phiếu của các thị trường mới nổi, trong khi kiềm chế đà tăng và triển vọng nhu cầu về dầu tại các thị trường này. Theo ông Jim Ritterbusch, người đứng đầu công ty chuyên nghiên cứu và đầu tư trong lĩnh vực năng lượng Ritterbusch and Associates, Thổ Nhĩ Kỳ là một thị trường tiêu thụ dầu tương đối nhỏ với chỉ khoảng 1 triệu thùng/ngày, tương đương 1% nhu cầu toàn cầu. Tuy nhiên, tâm lý của nhà đầu tư vẫn bị tác động bới những e ngại về nguy cơ một cuộc khủng hoảng tương tự sẽ xảy ra tại những nền kinh tế mới nổi khác.
Bên cạnh đó, thị trường luôn thường trực lo ngại về cuộc chiến thương mại đang leo thang giữa Mỹ, Trung Quốc và Liên minh châu Âu (EU) sẽ ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh tại các nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm xuống mức thấp nhất kể từ cuối tháng 1/2017 do USD tăng trong bối cảnh lo ngại về sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng ở Thổ Nhĩ Kỳ.
Giá vàng giao ngay giảm xuống 1.191,35 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ tháng 1/2017; vàng giao tháng 12/2018 giảm 20,10 USD (1,65%) xuống 1.198,90 USD/ounce.
Chỉ số đồng bạc xanh đã chạm mức cao nhất trong 13 tháng và sự tăng giá của đồng tiền này khiến những tài sản định giá bằng USD như vàng trở nên đắt đỏ hơn đối với các nhà đầu tư nắm giữ đồng tiền khác.
Trong năm nay, đồng nội tệ của Thổ Nhĩ Kỳ đã giảm hơn 40% so với đồng USD, do lo ngại về chính sách của Tổng thống Tayyip Erdogan kiểm soát nền kinh tế và quan hệ ngoại giao căng thẳng với Mỹ. Thông thường, giới đầu tư sẽ tìm đến vàng như một "kênh trú ẩn an toàn" trong thời kỳ bất ổn nhưng trong năm nay, kim loại quý này đã không được hưởng lợi từ xu thế này, khi các nhà đầu tư chuyển hướng tới trái phiếu của Mỹ và mua đồng USD.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 1,77% xuống 15,001 USD/ounce, còn giá bạch kim giảm 3,17% xuống 801,30 USD/ounce. Tháng trước, giá bạch kim đã rớt xuống dưới 800 USD/ounce, gần mức thấp nhất trong 10 năm, do tình trạng dư cung.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng giảm do cuộc khủng hoảng tiền tệ Thổ Nhĩ Kỳ đang lan rộng trên khắp các thị trường, gây giảm nhu cầu tiêu thụ đồng. Giá đồng tại London đóng cửa giảm 0,6% xuống còn 6,153.50 USD/tấn, gần chạm mức thấp nhất trong một năm là 5,988 USD hồi tháng 7.
Giá kẽm cũng giảm 2,5% còn 2.483 USD/tấn, chỉ cao hơn chút ít so với mức thấp nhất 13 tháng là 2.473,85 USD/tấn hồi tháng 7. Giá nhôm giảm 1,1% xuống 2.082 USD/tấn. Giá niken giảm 2% còn 13.550 USD/tấn. Giá thiếc giảm 0,5% còn 19,395 USD/tấn.
Giá thép cây kỳ hạn tại Thượng Hải tăng lên mức cao nhất kể từ năm 2012 do Trung Quốc cắt giảm sản lượng nhằm hạn chế ô nhiễm khiến nguồn cung khan. Dự trữ thép xây dựng đứng ở mức 4,14 triệu tấn trong tuần trước, gần chạm mức thấp nhất kể từ tháng 1/2018. Giá thép cây kỳ hạn tại Thượng Hải chốt phiên tăng 2,7% lên 4.345 CNY (632 USD)/tấn, cao nhất trong ngày là 4.347 CNY, mức cao nhất kể từ tháng 4/2012.
Giá quặng sắt tại sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên cũng tăng 1% lên 517 CNY/tấn. Giá thép cây kỳ hạn đã tăng gần 21% từ đầu năm tới nay trong khi quặng sắt giảm 7%.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn giao tháng 12/2018 giảm 0,75 US cent tương đương 0,68% xuống 1,093 USD/lb, sau khi có lúc giảm xuống 1,0745 USD/lb. Robusta giao tháng 9/2018 giảm 7 USD tương đương 0,42% xuống 1.667 USD/tấn. per tonne.
Giá đường thô tại ICE chạm mức thấp nhất 3 năm do đồng Real Brazil yếu. Giá đường thô giảm 0,24 cent, tương đương 2,28%, xuống mức 10,3 cent/lb, sau khi chạm mức thấp nhất trong 3 năm là 10,21 cent. Giá đường trắng kỳ hạn tháng 10 giảm 4,90 USD, tương đương 1,55%, còn 310,80 USD/tấn. Các thương gia cho biết nguồn cung đường hiện vẫn dồi dào mặc dù sản lượng giảm ở Trung- Nam Brazil và khả năng hạn hán làm giảm sản lượng tại EU.
Giá đậu tương kỳ hạn của Mỹ đã tăng lên sau khi chạm mức thấp nhất 3 tuần khi có các dự kiến dự trữ đậu tương trong nước sẽ tăng do vụ thu hoạch kỷ lục và tranh chấp thương mại với Trung Quốc. Giá đậu tương kỳ hạn tháng 11 đóng cửa tăng 0,8% lên mức 8,68-3/4 USD/bushel tại Chicago sau khi chạm xuống mức 8,51-1/4 USD, mức giá thấp nhất kể từ ngày 18/7 vào phiên sáng.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo giảm vào lúc đóng cửa, sau khi có lúc chạm mức thấp nhất gần 1 tuần, do đồng JPY tăng hơn so với USD và thị trường chứng khoán Tokyo giảm do tình hình quan hệ giữa Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ căng thẳng làm đồng lira mất giá và dấy lên nguy cơ bất ổn trên thị trường tài chính. Đồng JPY đã chạm mức cao nhất trong sáu tuần so với USD là 110,42. Chỉ số Nikkei Nhật đã giảm 2% xuống mức thấp nhất 5 tuần.
Giá hợp đồng cao su tại TOCOM giao tháng 1/2019 chốt phiên giảm 0,6 JPY xuống 171,7 JPY(1,56 USD)/kg, sau khi chạm mức thấp nhất kể từ 7/8/2018 là 170,1 JPY vào phiên sáng. Giá cao su kỳ hạn tại TOCOM dự kiến dao động quanh mức 170-175 JPY trong tuần này.
Hợp đồng cao su kỳ hạn Thượng Hải giao tháng 1/2019 giảm 65 CNY xuống còn 12.475 CNY(1.813 USD)/tấn. Giá hợp đồng cao su giao tháng 9 tại Singapore chốt phiên ở mức 134,2 cent Mỹ/kg, tăng 0,1 cent.
Giá hàng hóa thế giới

 

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

67,47

+0,27

+0,40%

Dầu Brent

USD/thùng

72,83

+0,22

+0,30%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

48.590,00

+280,00

+0,58%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,93

0,00

-0,03%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

202,96

+1,49

+0,74%

Dầu đốt

US cent/gallon

214,17

+0,47

+0,22%

Dầu khí

USD/tấn

655,25

+0,25

+0,04%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

66.200,00

+260,00

+0,39%

Vàng New York

USD/ounce

1.201,60

+2,70

+0,23%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.243,00

-34,00

-0,79%

Bạc New York

USD/ounce

15,04

+0,05

+0,35%

Bạc TOCOM

JPY/g

53,30

-0,80

-1,48%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

800,83

-2,47

-0,31%

Palladium giao ngay

USD/ounce

890,38

-3,73

-0,42%

Đồng New York

US cent/lb

272,40

-0,70

-0,26%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.153,50

-36,50

-0,59%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.082,00

-23,00

-1,09%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.483,00

-64,00

-2,51%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.395,00

-105,00

-0,54%

Ngô

US cent/bushel

371,50

+1,00

+0,27%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

557,25

+3,75

+0,68%

Lúa mạch

US cent/bushel

266,75

-0,25

-0,09%

Gạo thô

USD/cwt

10,36

+0,05

+0,49%

Đậu tương

US cent/bushel

866,75

-2,00

-0,23%

Khô đậu tương

USD/tấn

328,40

-0,40

-0,12%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,55

-0,12

-0,42%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

504,00

-1,00

-0,20%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.148,00

+30,00

+1,42%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

109,30

-0,75

-0,68%

Đường thô

US cent/lb

10,30

-0,24

-2,28%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

158,50

-3,30

-2,04%

Bông

US cent/lb

82,80

+0,04

+0,05%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

429,90

+15,00

+3,62%

Cao su TOCOM

JPY/kg

171,90

+0,20

+0,12%

Ethanol CME

USD/gallon

1,35

+0,00

+0,30%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg