Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm mạnh vì có nhiều rủi ro bắt nguồn từ sự bất ổn tại một số thị trường mới nổi và tình hình căng thẳng thương mại toàn cầu đang đe dọa triển vọng về nhu cầu dầu mỏ, mặc dù nguồn cung cũng đang có xu hướng thắt chặt.
Kết thúc phiên, dầu ngọt nhẹ (WTI) giảm 1,78 USD (2,5%), xuống 68,59 USD/thùng; dầu Brent Biển Bắc giảm 1,56 USD (2%), xuống 78,18 USD/thùng, rời khỏi mức cao nhất kể từ ngày 22/5 xác lập trong phiên trước đó. Hai loại dầu này đều chứng kiến mức giảm theo ngày mạnh nhất trong gần một tháng.
Ngay từ đầu phiên, giá dầu đã đảo chiều hạ sau báo cáo thiếu lạc quan của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA). Cơ quan này cho hay, sản lượng dầu mỏ toàn cầu đã chạm mức cao kỷ lục 100 triệu thùng/ngày trong tháng Tám, song thị trường có thể thắt chặt và giá sẽ được đẩy lên giữa bối cảnh hoạt động xuất khẩu từ Iran và Venezuela sụt giảm. IEA cảnh báo mặc dù thị trường dầu mỏ bị thắt chặt ở thời điểm hiện tại và nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ của thế giới có thể đạt mức 100 triệu thùng/ngày trong ba tháng tới, song những rủi ro từ kinh tế toàn cầu vẫn “rình rập” thị trường năng lượng.
Thị trường càng chịu sức ép đi xuống khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đăng trên mạng xã hội Tweeter rằng Mỹ không áp lực trong việc phải đạt được thỏa thuận thương mại với Trung Quốc.
Sản lượng dầu thô của Mỹ đã giảm 100.000 thùng/ngày, xuống 10,9 triệu thùng/ngày trong tuần trước. Tuy nhiên, Mỹ vẫn có thể sẽ ” Nga và Saudi Arabia để trở thành nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới trong triển vọng ngắn hạn dựa trên những ước tính sơ bộ của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm do giới đầu tư chuyển hướng sang mua các loại tài sản có độ rủi ro cao hơn thay vì tìm kiếm nơi trú ẩn an toàn như vàng, trước những kỳ vọng về một vòng đàm phán thương mại Mỹ-Trung mới.
Giá vàng giao ngay giảm 0,3% xuống còn 1.202,30 USD/ounce, trong khi vàng giao tháng 12/2018 giảm 2,7 USD, hay 0,2% và khép phiên ở mức 1.208,20 USD/ounce.
Theo chuyên gia Chris Gaffneycủa Ngân hàng TIAA Bank, phiên này chứng khiến sự bất thường trong mối quan hệ giữa đồng USD và giá vàng. Chỉ số đồng USD đo sức mạnh của “đồng bạc xanh” so với rổ các đồng tiền chủ chốt giảm xuống sau số liệu cho thấy giá tiêu dùng của Mỹ đã tăng ít hơn dự doán trong tháng Tám vừa qua.
USD yếu đi thường sẽ khiến vàng vốn là kim loại quý dược định giá bằng đồng tiền này trở nên hấp dẫn hơn đối với người mua nắm giữ các đồng tiền khác, nhưng mối quan hệ này đã bị phá vỡ trong phiên 13/9, với những tiến triển mới trong việc giải quyết căng thẳng thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Giới chức Mỹ ngày 13/9/2018 xác nhận chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đề xuất tiến hành một vòng đàm phán thương mại mới với Trung Quốc. Nguồn tin từ Nhà Trắng cho biết, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin và các quan chức cấp cao khác đã mời các đối tác đồng cấp Trung Quốc, trong đó có Phó Thủ tướng Lưu Hạc, tham gia vòng đàm phán thương mại mới nhằm giải quyết các quan ngại, trước khi Mỹ xem xét áp đặt thêm các mức thuế quan với hàng hóa Trung Quốc trị giá 200 tỷ USD.
Đáp lại, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết nước này hoan nghênh đề xuất của Mỹ về việc tổ chức vòng đàm phán thương mại mới nhằm giải quyết các vấn đề tồn đọng. Cuộc gặp này có thể diễn ra tại thủ đô Washington hoặc Bắc Kinh trong những tuần tới.
Về những kim loại quý khác, giá bạc vững ở 14,21 USD/ounce, sau khi có lúc đạt 14,34 USD, cao nhất trong vòng 9 phiên; bạch kim tăng 0,3% lên 800,74 USD, sau khi đạt mức cao nhất 9 tháng là 812,30 USD/ounce, trong khi palađi tăng 0,9% lên 983,50 USD/ounce.
Đối với kim loại công nghiệp, giá đồng tăng lên mức cao nhất hai tuần sau khi Trung Quốc hoan nghênh lời mời của Mỹ khởi động lại đàm phán thương mại. Giá đồng tham khảo tại London đã tăng 0,6% lên mức 6.033 USD/ounce, sau khi chạm mức cao nhất kể từ ngày 30/8 ở mức 6.074 USD. Trong khi giá đồng giao tháng 11 tại Thượng Hải tăng 2,2%, đạt mức cao nhất hai tuần. Hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đã áp đặt thuế quan đánh vào giao dịch hàng hóa trị giá 50 tỷ USD/mỗi bên, gây lo ngại nhu cầu kim loại công nghiệp sẽ suy yếu. Washington đang chuẩn bị đặt thêm thuế quan đối với hàng hóa trị giá 200 tỷ USD nữa.
Giá thép và quặng sắt tăng cao sau khi Trung Quốc chấp nhận lời mời của Mỹ tổ chức đàm phán, dấy lên hy vọng chấm dứt tranh chấp thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Thép cây giao tháng 1/2019 tại Thượng Hải đóng cửa tăng 0,3% lên 4.071 CNY (595 USD)/tấn.Thép cuộn cán nóng tăng 1,1% lên 4.013 CNY/tấn. Quặng sắt Đại Liên tăng 3% đạt 503,50 CNY/ tấn. Quặng sắt giao ngay tới cảng Qingdao tăng 0,3% lên 67,86 USD/tấn trong phiên liền trước, theo Metal Bulletin.
Ngành thép Trung Quốc có xu hướng dịch chuyển trung tâm sản xuất về khu vực gần biển ở miền nam nhưng nhiều chuyên gia lo ngại biện pháp này sẽ không giúp cải thiện chất lượng môi trường. Động thái này đánh dấu một bước ngoặt mới trong cuộc chiến chống ô nhiễm môi trường trường kỳ và chiến dịch loại bỏ công suất dư thừa trong ngành công nghiệp nặng của chính phủ.
Bộ Môi trường Trung Quốc (MEE) sẽ tăng cường giám sát chính quyền địa phương để ngăn chặn nguy cơ ô nhiễm lan xuống miền nam. Giám đốc phòng đánh giá tác động môi trường của MEE Cui Shuhong cho biết.
Năm 2017, Đường Sơn không đạt mục tiêu về chất lượng không khí bởi thành phố này sản xuất ra một lượng thép lớn hơn tổng sản lượng của Mỹ. Trong bối cảnh như vậy, tỉnh Hà Bắc đặt mục tiêu giảm công suất sản xuất thép xuống 200 triệu tấn/năm vào năm 2020, giảm 20% so với năm ngoái. Giang Tô, tỉnh sản xuất thép lớn thứ hai Trung Quốc, cũng công bố kế hoạch tương tự vào tháng 8. Tuy nhiên, chiến lược này sẽ khiến chi phí tài chính của các nhà máy thép tăng mạnh. Hơn nữa, các chuyên gia môi trường vẫn băn khoăn rằng liệu việc di dời các nhà máy ra phía gần biển có giúp cải thiện được chất lượng không khí của khu vực này hay không.
Chính quyền tỉnh Hà Bắc đã đề nghị 6 nhà máy thép lớn tìm cách sáp nhập 17 nhà máy quy mô nhỏ hơn và di dời dây chuyền về 4 khu công nghiệp dành riêng cho hoạt động sản xuất thép tại huyện Phong Nam, Tào Phi Điện, Thương Châu và Kinh Dương tại Vịnh Bột Hải đến năm 2020.
Guofeng là một trong 4 công ty được mua lại và sáp nhập vào đối thủ lớn hơn là Xinhua Metallurgy. Thỏa thuận này được xem như là phép thử cho kế hoạch tham vọng của chính quyền tỉnh Hà Bắc nhằm đẩy nhanh quá trình sáp nhập trong ngành thép, loại bỏ các nhà máy không hiệu quả để tạo ra những siêu nhà máy đủ sức cạnh tranh với thế giới. Sau sáp nhập, công ty đang xây dựng một nhà máy thép hiện đại tại huyện Phong Nam với diện tích gấp đôi công viên Central Park của New York, và công suất đạt 7,9 triệu tấn thép chất lượng cao mỗi năm. Đến năm 2020, 10 doanh nghiệp sản xuất thép lớn nhất Trung Quốc sẽ chiếm 60% công suất của cả nước, tăng từ mức 1/3 hiện tại. Trong đó, tỉnh Hà Bắc đặt mục tiêu giảm thị phần trong tổng sản lượng thép cả nước xuống 20% từ mức gần 30% hiện nay.
Trong vài năm gần đây, hàng trăm nhà sản xuất thép tư nhân quy mô nhỏ phải đóng cửa vì chiến dịch làm sạch không khí và giảm công suất dư thừa của chính phủ Trung Quốc. Tuy nhiên, việc loại bỏ hoàn toàn các nhà máy thép sẽ làm biến đổi cảnh quan của thành phố và ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô kỳ hạn giao tháng 10/2018 tăng 0,01 US cent tương đương 0,1% lên 11,68 US cent/lb, sau khi có lúc chạm mức cao nhất kể từ 2/7/2018 (11,80 US cent/lb). Đường trắng giao tháng 12/2018 tăng 3,6 USD tương đương 1% lên 350,60 USD/tấn, sau khi có lúc chạm 357,60 USD/tấn, cao nhất kể từ 7/3/2018.
Các yếu tố cơ bản trở nên ít bi quan hơn khi triển vọng sản lượng của Liên minh châu Âu giảm, và Brazil tiếp tục tập trung vào sản xuất ethanol hơn là đường.
Cà phê arabica giao tháng 12/2018 giảm 1,45 US cent tương đương 1,42% xuống 1,0065 USD/lb, rong khi robusta giao tháng 11/2018 giảm 16 USD tương đương 1,1% xuống 1.500 USD/tấn.
Giá cà phê tại Việt Nam tăng nhẹ trong tuần này do nguồn cung khan hiếm, nhưng các thương nhân cho biết giá sẽ không tăng cao hơn nữa khi vụ thu hoạch mới bắt đầu trong tháng tới. Nông dân ở Tây Nguyên, vùng trồng cà phê lớn nhất cả nước, bán cà phê với giá 33.000 đồng -33.500 đồng (1,42 USD - 1,44 USD) /kg, so với mức 32.500 đồng-33.300 đồng một tuần trước đó.
Các nhà xuất khẩu Việt Nam chào bán cà phê robusta loại 2 đen vỡ 5% với giá chênh lệch khoảng 50 USD so với giá hợp đồng tháng 11/2018 của London, so với mức chênh lệch 40-70 USD một tuần trước đó. Trong khi đó, tại Indonesia, khối lượng giao dịch sụt giảm mạnh do dự trữ bắt đầu cạn kiệt khi vụ thu hoạch sắp kết thúc.
Mức chênh lệch giá cà phê robusta loại 4, 80 hạt vỡ tại tỉnh Lampung so với giá kỳ hạn tháng 11 của London là 80 USD, thấp hơn mức 90 USD một tuần trước đó, một thương nhân địa phương cho biết.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo tăng lên mức cao nhất trong một tuần theo xu hướng tăng giá tại Thượng Hải và hy vọng mới về đàm phán thương mại Mỹ Trung.
Cao su giao tháng 2/2019 tại Tokyo chốt phiên tăng 0,3 JPY lên mức 167,6 JPY/kg.Cao su giao tháng 1/2019 tại Thượng Hải tăng 260 CNY lên mức 12.420 CNY/tấn.Cao su giao tháng 10/2018 tại SICOM đóng cửa ở mức 133,3 cent Mỹ/kg, tăng 0,7 cent.

Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

68,59

-1,78

-2,5%

Dầu Brent

USD/thùng

78,18

-1,56

-2%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

51.220,00

-330,00

-0,64%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,81

-0,01

-0,25%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

199,75

+0,46

+0,23%

Dầu đốt

US cent/gallon

222,71

+0,36

+0,16%

Dầu khí

USD/tấn

685,00

+1,50

+0,22%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

69.510,00

-320,00

-0,46%

Vàng New York

USD/ounce

1.208,50

+0,30

+0,02%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.320,00

+19,00

+0,44%

Bạc New York

USD/ounce

14,23

-0,01

-0,10%

Bạc TOCOM

JPY/g

51,30

+0,20

+0,39%

Bạch kim

USD/ounce

805,35

+2,32

+0,29%

Palađi

USD/ounce

981,68

-0,39

-0,04%

Đồng New York

US cent/lb

268,15

-0,15

-0,06%

Đồng LME

USD/tấn

6.033,00

+36,00

+0,60%

Nhôm LME

USD/tấn

2.064,00

0,00

0,00%

Kẽm LME

USD/tấn

2.360,00

-10,50

-0,44%

Thiếc LME

USD/tấn

19.025,00

-25,00

-0,13%

Ngô

US cent/bushel

351,75

+1,25

+0,36%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

502,00

+5,00

+1,01%

Lúa mạch

US cent/bushel

242,75

+0,25

+0,10%

Gạo thô

USD/cwt

10,75

-0,02

-0,19%

Đậu tương

US cent/bushel

836,75

+3,50

+0,42%

Khô đậu tương

USD/tấn

314,10

-0,80

-0,25%

Dầu đậu tương

US cent/lb

27,81

+0,02

+0,07%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

489,90

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.315,00

-10,00

-0,43%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

100,65

-1,45

-1,42%

Đường thô

US cent/lb

12,45

+0,12

+0,97%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

153,60

-0,25

-0,16%

Bông

US cent/lb

81,48

-0,03

-0,04%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

378,50

+4,60

+1,23%

Cao su TOCOM

JPY/kg

168,20

+0,60

+0,36%

Ethanol CME

USD/gallon

1,27

+0,01

+0,71%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg