Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô giảm sau khi số liệu cho thấy hoạt động xuất nhập khẩu ở Trung Quốc đang giảm sút.
Kết thúc phiên, dầu Brent giảm 1,49 USD, hay 2,5% xuống còn 58,99 USD/thùng; dầu ngọt nhẹ Mỹ giảm 1,08 USD (hay 2,1%) và chốt phiên ở mức 50,51 USD/thùng.
Đây là phiên thứ 2 liên tiếp giá giảm, sau 9 phiên tăng tổng cộng hơn 18% trước đó.
Số liệu cho thấy hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc bất ngờ suy giảm đã một lần nữa làm dấy lên những lo ngại về đà tăng trưởng chậm lại trên toàn cầu, qua đó ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu thụ “vàng đen”. Hoạt động xuất khẩu tháng 12 của Trung Quốc đã ghi nhận mức giảm mạnh nhất trong hai năm qua, trong khi nhập khẩu cũng đi xuống.
Với sự khởi sắc của giá dầu gần đây, các quan chức của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) dường như tin tưởng hơn rằng giá dầu sẽ được hỗ trợ bởi thỏa thuận cắt giảm 1,2 triệu thùng dầu/ngày tổng cộng sẽ có hiệu lực trong tháng này. Các nước trong và ngoài OPEC đã đạt được thỏa thuận này hồi tháng 12 vừa qua.
Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia Khalid al-Falih mới đây cho rằng thị trường dầu đang “đi đúng hướng” và OPEC không cần thiết phải có một cuộc họp bất thường trước kỳ họp tiếp theo dự kiến sẽ diễn ra vào tháng Tư tới.
Giá than đá tại Trung Quốc tăng do thi trường tiếp tục lo ngại về nguồn cung. Than luyện cốc đạt mức cao nhất 4 tuần do vụ sập hầm lò ở mỏ than thuộc tỉnh Thiểm Tây (miền Bắc Trung Quốc). Trong phiên vừa qua có lúc tăng 3,7% trước khi kết thúc phiên ở mức tăng 2,8% so với đóng cửa phiên liền trước, lên 1.245 CNY/tấn trên sàn Đại Liên; than cốc tăng 3,1% lên 2.015 CNY/tấn. Cơ quan phụ trách an toàn mỏ than quốc gia Trung Quốc đã yêu cầu một số mỏ than ở các trung tâm sản xuất than lớn thuộc Sơn Đông, Hà Namvaf các tỉnh khác thuộc phía Đông Bắc Trung Quốc, phải tạm dừng hoạt động để tiến hành đợt kiểm tra kéo dài tới tháng 6 tới.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng giữa bối cảnh thị trường chứng khoán toàn cầu sụt giảm trước số liệu về hoạt động xuất khẩu kém khả quan của Trung Quốc.
Vàng giao ngay tăng 0,4% lên 1.291,99 USD/ounce, vàng giao sau tăng 0,1% lên 1.291,3 USD/ounce.
Nhà phân tích Edward Meir, thuộc INTL FCStone, nhận định việc thị trường chứng khoán Mỹ sụt giảm vào đầu phiên giao dịch và thông tin thiếu tích cực về hoạt động thương mại tại nền kinh tế lớn thứ hai thế giới là những yếu tố hỗ trợ cho giá vàng phiên này.
Theo thống kê chính thức, kim ngạch xuất khẩu trong tháng 12/2018 của Trung Quốc giảm 4,4% so với cùng kỳ năm trước, ghi dấu mức giảm theo tháng mạnh nhất trong hai năm. Giá trị nhập khẩu cũng giảm 7,6%, mức giảm lớn nhất kể từ tháng 7/2016. Đây là những số liệu cho thấy sự sa sút của kinh tế Trung Quốc.
Bên cạnh đó, sự thiếu chắc chắn xung quanh tiến trình Brexit và tình trạng Chính phủ liên bang Mỹ buộc phải đóng cửa một phần cũng góp phần hỗ trợ giá vàng. Walter Pehowich, quan chức thuộc Dillon Gage Metals, dự báo nếu tình trạng đóng cửa chính phủ tại Mỹ tiếp tục kéo dài thì giới đầu tư sẽ quan tâm nhiều hơn đến vàng và trái phiếu.
Về những kim loại quý khác, giá bạch kim giảm 1% xuống 802,70 USD/ounce, giá bạc tăng 0,3% lên 15,64 USD/ounce, giá bạch kim giảm 1% xuống 802,7 USD/ounce.
Mặc dù thị trường bạch kim tiếp tục thiếu cung nhưng nguy cơ suy thoái kinh tế khiến các nhà đầu tư thận trọng khi dự đoán về giá trong nửa cuối 2019.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá sắt thép tăng khi các nhà đầu tư đang kỳ vọng nhu cầu thép sẽ tăng sau khi Chính phủ Trung Quốc mới đây thông báo về một số dự án hạ tầng cơ sở.
Giá thép trên thị trường Trung Quốc đạt mức cao nhất trong vòng 2 tháng khi các thương gia tăng cường mua tích trữ. Thép cây kỳ hạn tham chiếu trên sàn Thượng Hải cuối phiên tăng 1,6% lên 3.575 CNY (528,44 USD)/tấn, mức cao nhất trong vòng 6 tuần, trong phiên có lúc đạt 3.576 CNY, cao nhất 2 tháng. Thép cuộn cán nóng tăng 1,1% lên 3.459 CNY/tấn.
Giá quặng sắt trên thị trường Trung Quốc tăng sau khi hãng Rio Tino thông báo bất khả kháng nên không thể thực hiện được một số hợp đồng giao hàng sau khi xảy ra cháy tại cơ sở xuất khẩu hàng của họ tại Australia. Thông tin nhập khẩu quặng sắt vào Trung Quốc năm 2018 giảm 1% so với năm trước đó (lần giảm đầu tiên kể từ 2010) cũng góp phần làm tăng giá quặng sắt (mặc dù vậy khối lượng nhập khẩu vẫn vượt 1 tỷ tấn năm thứ 3 liên tiếp).
Quặng sắt hợp đồng kỳ hạn giao dịch nhiều nhất trên sàn Địa Liên tăng gần 1% lên 513 CNY/tấn.
Giá đồng và nhôm đều giảm sau thông tin về xuất nhập khẩu của Trung Quốc. Đồng giao sau 3 tháng trên sàn London giảm 0,8% xuống 5.897 USD/tấn, trong khi nhôm giao cùng kỳ hạn trên sàn London giảm 0,4% xuống 1.828 USD/tấn; nhôm giao dịch tại Thượng Hải trong phiên có lúc xuống mức thấp nhất kể từ tháng 9/2016 nhưng hồi phục vào cuối phiên để đạt 13.285 CNY/tấn (tăng 0,7% so với phiên giao dịch trước).
Tương tự như với mặt hàng dầu, trên thực tế nhập khẩu đồng vào Trung Quốc vẫn đang tăng, nhưng lo ngại kinh tế nước này yếu đi sẽ ảnh hưởng tới nhu cầu đồng trong tương lai đã gây áp lực giảm giá trong phiên vừa qua.
Năm 2018, Trung Quốc đã nhập khẩu 5,3 triệu tấn đồng thô, tăng 12,9% so với năm trước đó. Lượng nhôm lưu kho trên sàn LME tăng 9.300 tấn lên 1,1 triệu tấn, và so với giữa tháng 12/2018 đã tăng 73%.
Tuần trước Reuters đưa tin Bắc Kinh dự kiến tăng trưởng kinh tế năm 2019 sẽ ở mức 6-6,5%, sau khi đạt 6,6% trong năm 2018 – thấp nhất trong vòng 28 năm. Các hãng sản xuất ô tô Trung Quốc dự báo sẽ phải cạnh tranh khó khăn hơn trong năm nay sau khi đã chật vật trong năm 2018. Thị trường ô tô lớn nhất thế giới năm qua đã bị suy giảm lần đầu tiên trong vòng hơn 2 thập kỷ.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê, đường và cacao đều sụt giảm. Cà phê arabica kỳ hạn giao tháng 3/2019 trên sàn New York giảm 1,1 US cent tương đương 1,1% xuống 1,0275 USD/lb sau khi hãng xuất khẩu cà phê lớn nhất Brazil là Comexim nâng dự đoán về sản lượng của nước này niên vụ 2018/19 lên 63,05 triệu bao, từ mức 60,7 triệu bao đưa ra trước đây, khiến nông dân nước này phải trữ hàng lại vì giá hiện quá tháp. Robusta giao cùng kỳ hạn cũng giảm 15 USD tương đương 1% xuống 1.528 USD/tấn.
Đường thô giao tháng 3 giảm 0,03 US cent tương đương 0,2% xuống 12,75 US cent/lb, trong khi đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 1,4 USD tương đương 0,4% xuống 343,50 USD/tấn.
Cacao giao tháng 5 trên sàn London giảm 19 GBP tương đương 1,1% xuống 1.709 GBP/tấn, trong khi cacao giao tháng 3 trên sàn New York giảm 15 USD tương đương 0,6% xuống 2.341 USD/tấn. Lượng cacao lưu tại các cảng biển ở Bờ Biển Ngà từ 1/10/2018 đến 13/1/2019 đã tăng khoảng 12% so với cùng kỳ năm trước, lên 1,195 triệu tấn. Thị trường đang chờ đợi số liệu về lượng xay nghiền cacao trong quý 4/2018 để biết xu hướng nhu cầu.
Giá lúa mì xuất khẩu của Nga tăng nhẹ trong nửa đầu tháng 1/2019 do tác động cùng lúc từ 3 yếu tố: nhu cầu mạnh từ Ai Cập –một khách hàng lớn, giá lúa mì thế giới tăng và đồng rouble mạnh lên. Lúa mì Biển Đen của Nga (loại 12,5% protein) kỳ hạn giao tháng 1/2019 kết thúc tuần vừa qua đạt 238 USD/tấn, FOB, tăng 1 USD so với cuối tháng 12/2018. Ai Cập hôm 9/1/2019 đã mua 415.000 tấn lúa mì Nga. Tuy nhiên, lúa mì loại 3 tiêu thụ trên thị trường nội địa giảm 50 rouble xuống 11.400 rouble (170 USD)/tấn.
Bộ Nông nghiệp Nga dự báo xuất khẩu lúa mì năm 2018/19 sẽ đạt 42 triệu tấn.
Nguồn cung đậu tương thế giới sắp tới có thể bị ảnh hưởng bởi mưa quá nhiều tại Argentina – nước xuất khẩu lúa mì lớn đồng thời là nước cung cấp khô đậu tương số 1 thế giới.
Dự báo từ tháng 1 tới tháng 3 năm nay Argentina sẽ mưa nhiều và kéo dài, khiến các cánh đồng đậu tương bị ngập trong nước.
Giá đậu tương trên sàn Chicago giảm xuống mức thấp nhất 1,5 tuần do hoạt động bán ra mạnh bởi lo ngại nhu cầu của Trung Quốc – nước nhập khẩu đậu tương lớn nhất thế giới – vẫn yếu do dịch tả lợn Châu Phi, trong bối cảnh cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung vẫn còn dai dẳng.
Số liệu từ Trung Quốc cho thấy nhập khẩu đậu tương trong tháng 12/2018 giảm 40% so với cùng tháng năm trước, là mức thấp nhất kể từ tháng 12/2011. Tính chung cả năm 2018, nhập khẩu giảm lần đầu tiên kể từ 2011 do Mỹ tăng thuế (giảm 7,9% xuống 88,03 triệu tấn).
Trung Quốc là nước nhập khẩu đậu tương lớn nhất của Mỹ, thường dành tỷ lệ nhập khẩu từ Mỹ nhiều nhất năm vào quý 4 hàng năm, là khi Mỹ hoàn thành việc thu hoạch vụ mùa. Nhưng tháng 11/2018 Trung Quốc không nhập chút đậu tương Mỹ nào.
Giá lợn siêu nạc tại Mỹ giảm phiên thứ 2 liên tiếp, xuống mức thấp nhất 1 tuần, vì các nhà chăn nuôi tăng cường bán lợn ra do thiếu thông tin. Lợn sống trên sàn Chicago kỳ hạn giao tháng 2/2019 giảm 0,8 US cent xuống 61,85 US cent/lb.
Ngày 10/1/2019 giá lợn đã tăng lên mức cao nhất nhiều tuần bởi các nhà chăn nuôi Mỹ nhận định dịch tả lợn châu Phi ở Trung Quốc khiến các nhà chăn nuôi Trung Quốc phải bán tháo lợn đi gây thiếu cung thịt lợn. Nhưng Chính phủ Mỹ vẫn đóng cửa một phần do thiếu ngân sách nên không công bố các thông tin mới xoay quanh vấn đề này, khiến nhà chăn nuôi và các nhà kinh doanh thịt lợn Mỹ mất phương hướng nên đang bán ra quá nhiều.
Tuy nhiên, bão tuyết ở Mỹ đang hoành hành, có thể kéo giá thịt lợn tăng trở lại.
Giá dầu cọ giảm mạnh nhất trong vòng 6 tuần bởi dự báo tăng trưởng kinh tế chậm lại. Dầu cọ thô giao tháng 3 trên sàn Bursa (Malaysia) giảm 1,6% xuống 2.136 ringgit (521 USD)/tấn, thấp nhất kể từ ngày 2/1/2019. Dầu cọ trên sàn Đại Liên (Trung Quốc) kỳ hạn giao tháng 1/2019 giảm 6%.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

50,51

-1,08

-2,1%

Dầu Brent

USD/thùng

58,99

-1,49

-2,46%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

39.810,00

-650,00

-1,61%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,62

+0,03

+0,81%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

137,35

+0,97

+0,71%

Dầu đốt

US cent/gallon

186,00

+0,75

+0,40%

Dầu khí

USD/tấn

567,75

-1,50

-0,26%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

55.270,00

-680,00

-1,22%

Vàng New York

USD/ounce

1.292,80

+1,50

+0,12%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.483,00

-11,00

-0,24%

Bạc New York

USD/ounce

15,69

+0,00

+0,03%

Bạc TOCOM

JPY/g

54,70

0,00

0,00%

Bạch kim

USD/ounce

803,43

+1,30

+0,16%

Palađi

USD/ounce

1.324,30

-0,35

-0,03%

Đồng New York

US cent/lb

263,15

-0,35

-0,13%

Đồng LME

USD/tấn

5.942,00

+12,00

+0,20%

Nhôm LME

USD/tấn

1.836,00

-25,00

-1,34%

Kẽm LME

USD/tấn

2.492,00

+31,00

+1,26%

Thiếc LME

USD/tấn

20.300,00

+160,00

+0,79%

Ngô

US cent/bushel

378,50

+0,25

+0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

514,25

-5,25

-1,01%

Lúa mạch

US cent/bushel

300,00

+5,25

+1,78%

Gạo thô

USD/cwt

10,59

-0,18

-1,72%

Đậu tương

US cent/bushel

903,50

-6,75

-0,74%

Khô đậu tương

USD/tấn

311,80

-2,80

-0,89%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,40

-0,01

-0,04%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

479,70

-3,60

-0,74%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.341,00

-15,00

-0,64%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

102,75

-1,10

-1,06%

Đường thô

US cent/lb

12,75

-0,03

-0,23%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

120,75

-0,25

-0,21%

Bông

US cent/lb

72,99

+0,50

+0,69%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

338,40

-4,80

-1,40%

Cao su TOCOM

JPY/kg

183,20

-0,30

-0,16%

Ethanol CME

USD/gallon

1,29

0,00

-0,08%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters, CafeF