Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng sau số liệu báo cáo cho thấy các nhà sản xuất dầu mỏ lớn trên thế giới tuân thủ thỏa thuận cùng giảm bớt nguồn cung dư thừa mà đã đạt được trước đó.
Tại thị trường New York, giá dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 3/2017 tăng 0,27 USD lên 53,20 USD/thùng; trong khi tại London, giá dầu Brent giao tháng 4/2017 tăng 0,38 USD lên 55,97 USD/thùng.
Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) cho biết đã cắt giảm sản lượng xuống mức bình quân 32,14 triệu thùng/ngày trong tháng 1/2017, giảm hơn 890.000 thùng/ngày so với mức bình quân trong tháng 12/2016.
Trong số các thành viên OPEC, Saudi Arabia, Iraq và Các Tiểu Vương quốc Arập Thống nhất là những nước cắt giảm sản lượng dầu “mạnh tay” nhất. Trong khi đó, Nigeria, Libya và Iran lại nâng sản lượng. Hiện OPEC chiếm khoảng 33,5% tổng sản lượng dầu mỏ của thế giới.
Tuần trước, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cũng cho hay mức độ tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng của OPEC đạt hơn 90%.
Cuối năm 2016, OPEC cùng một số nước sản xuất dầu mỏ ngoài khối này đã nhất trí giảm sản lượng tổng cộng 1,8 triệu thùng/ngày trong 6 tháng đầu năm nay.
Từ tháng 12/2016 tới tháng Một năm nay, giá dầu thế giới đã tăng 73%, lên 52,40 USD/thùng.
Giá mặt hàng này có thể còn tăng cao hơn nếu sự phục hồi đó không thúc đẩy các nhà sản xuất dầu Mỹ (vốn có chi phí sản xuất cao) quay trở lại thị trường.
OPEC nhận định rằng việc các nhà sản xuất dầu mỏ của Mỹ triển khai thêm nhiều giàn khoan dầu đang cản trở đà phục hồi của giá dầu thế giới, đồng thời ảnh hưởng tới nỗ lực cắt giảm sản lượng của các nước sản xuất dầu mỏ chủ chốt khác.
Giới phân tích cho rằng mức giá dầu đủ để các nhà sản xuất dầu đá phiến của Mỹ hòa vốn là khoảng 50 USD/thùng.
Điều này có nghĩa là với mức giá như hiện tại, họ có thể thu được lợi nhuận. Trong số các thành viên OPEC, Saudi Arabia, Iraq và Các Tiểu Vương quốc Arập Thống nhất là những nước cắt giảm sản lượng “mạnh tay” nhất. Trong khi đó, Nigeria, Libya và Iran lại nâng sản lượng.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng dao động nhẹ trong bối cảnh đồng USD được hỗ trợ bởi phát biểu của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Janet Yellen về việc cơ quan này có thể sẽ nâng lãi suất trong cuộc họp sắp tới.
Vàng giao ngay được giao dịch ở mức 1.229,49 USD/ounce, tăng 0,4%, trong khi đó vàng giao kỳ hạn đã giảm nhẹ 0.03% xuống 1.255,4 USD/ounce.
Giá vàng đã tăng 10% từ sau khi chạm mức thấp nhất trong vòng 10 tháng hồi tháng 12/2016.
Chỉ số đồng USD đã tăng lên mức cao nhất trong hơn ba tuần sau phát biểu của bà Yellen trước Ủy ban Ngân hàng Thượng viện Mỹ, trong lúc ba chỉ số chứng khoán chính trên thị trường Phố Wall tăng lên mức cao kỷ lục mới.
Giá vàng luôn nhạy cảm với các động thái điều chỉnh lãi suất của Mỹ, bởi lãi suất tăng sẽ giúp đồng USD mạnh lên nhưng lại làm giảm sức hấp dẫn của các tài sản an toàn như vàng.
Đối với kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 1% lên 17,97 USD/ounce – mức cao nhất kể từ ngày 11/11/2016. Giá bạch kim cũng tăng 0,6% và giao dịch ở mức 1.001,2 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá đường tăng sau phiên giảm mạnh trước đó xuống mức thấp nhất 6 tuần, trong khi cà phê giảm.
Đường thô giao tháng 3 giá tăng 0,4 US cent hay 1,9% lên 20,37 US cent/lb, trong khi đường trắng giao tháng 5 tăng 11,50 USD hay 2,1% lên 548,80 USD/tấn.
Cà phê robusta tiếp tục giảm xa khỏi mức cao kỷ lục 5 năm rưỡi đạt được ngày 1/2, với hợp đồng giao tháng 5 giá giảm 11 USD hay 0,5% xuống 2.128 USD/tấn, trong khi đó arabica giao tháng 5 giá giảm 0,6 US cent hay o,4% xuống 1,459 USD/lb.

Giá hàng hóa thế giới

 

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,20

+0,27

+0,38%

Dầu Brent

USD/thùng

55,97

+0,38

+0,30%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

38.870,00

+420,00

+1,09%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,95

+0,05

+1,58%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

154,10

-0,57

-0,37%

Dầu đốt

US cent/gallon

163,20

-0,62

-0,38%

Dầu khí

USD/tấn

493,75

-3,50

-0,70%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

47.740,00

+500,00

+1,06%

Vàng New York

USD/ounce

1.227,80

+2,40

+0,20%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.491,00

+26,00

+0,58%

Bạc New York

USD/ounce

17,93

+0,04

+0,23%

Bạc TOCOM

JPY/g

65,70

+0,70

+1,08%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.000,00

-1,75

-0,17%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

780,05

-1,45

-0,19%

Đồng New York

US cent/lb

274,90

+1,20

+0,44%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.021,00

-85,00

-1,39%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.887,00

+16,00

+0,86%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.903,00

-13,00

-0,45%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.925,00

-70,00

-0,35%

Ngô

US cent/bushel

374,50

+0,25

+0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

464,50

+1,00

+0,22%

Lúa mạch

US cent/bushel

252,75

-1,25

-0,49%

Gạo thô

USD/cwt

9,43

-0,01

-0,11%

Đậu tương

US cent/bushel

1.058,25

+2,25

+0,21%

Khô đậu tương

USD/tấn

344,10

+0,20

+0,06%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,45

+0,04

+0,12%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

529,30

+0,20

+0,04%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.905,00

-20,00

-1,04%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

145,95

-0,60

-0,41%

Đường thô

US cent/lb

20,37

+0,38

+1,90%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

170,00

+2,90

+1,74%

Bông

US cent/lb

77,95

-0,26

-0,33%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

365,40

0,00

0,00%

Cao su TOCOM

JPY/kg

321,50

-4,90

-1,50%

Ethanol CME

USD/gallon

1,54

-0,04

-2,71%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg