Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng nhẹ trong bối cảnh số liệu từ Mỹ tác động trái chiều tới mặt hàng này.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu Brent tăng 25 US cent (0,4%) lên 64,89 USD/thùng, trong khi dầu thô ngọt nhẹ (WTI) cũng tăng 25 US cent lên 60,96 USD/thùng.
Số liệu từ Cơ quan Thông tin Năng lượng (EIA) cho thấy dự trữ dầu thô của Mỹ nhiều hơn dự kiến, nhưng lượng xăng và sản phẩm chưng cất sử dụng từ kho dự trữ cũng tăng cao. Cụ thể, dự trữ dầu Mỹ đã thêm 5 triệu thùng, mức tăng nhiều nhất kể từ cuối tháng 1, trong khi dự đoán chỉ tăng khoảng 2 triệu thùng. Tuy nhiên, lượng xăng dự trữ lại giảm 6,3 triệu thùng tuần qua, so với mức dự kiến giảm 1,2 triệu thùng của các nhà phân tích, dự trữ các sản phẩm chưng cất, bao gồm diesel và dầu sưởi ấm, cũng giảm 4,4 triệu thùng so với con số dự kiến giảm 1,5 triệu thùng.
“Xu hướng thị trường lúc này không rõ ràng, bởi báo cáo tháng này từ EIA không thể hiện rằng thị trường sẽ tiếp tục cân bằng hay không”, nhà quản lý bộ phận nghiên cứu thị trường của Tradition Energy, Gene McGillian cho biết.
Ngoài ra, giá dầu chắc chắn sẽ chịu sức ép bởi sau khi Tổ chức các nước xuất khẩu dầu (OPEC) trong báo cáo tháng này cho biết nguồn cung từ các nước ngoài thành viên chắc chắn sẽ tăng 1,66 triệu thùng/ngày trong năm 2018, gần gấp đôi mức dự báo hồi tháng 11, chủ yếu do Mỹ tăng sản lượng.
OPEC cũng cho hay dự trữ dầu ở khắp các nước công nghiệp trong tháng 1 đều tăng lần đầu tiên trong vòng 8 tháng, dấu hiệu co thấy tác động từ việc cắt giảm sản lượng đang mờ nhạt dần. OPEC đã hạ dự báo về nhu cầu dầu thô năm 2018 đi 250.000 thùng/ngày xuống 32,61 triệu thùng/ngày, lần hạ thứ 4 liên tiếp.

Tuy nhiên, giá dầu cũng sẽ sớm được hỗ trợ bởi nhu cầu mùa vụ. 

Sản lượng dầu của Nga so với Saudi Arabia

Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm do USD hồi phục và dự báo Mỹ sẽ tăng tỷ lệ lãi suất, nhưng vẫn được hỗ trợ bởi hoạt động mua như tài sản “trú ẩn an toàn” sau khi Ngoại trưởng Mỹ State Rex Tillerson đột ngột bị sa thải.

Giá vàng giao ngay giảm 0,1% xuống 1.324 USD/ounce sau khi có lúc đạt 1.330,02 USD, mức cao nhất kể từ 7/3, trong khi vàng giao tháng 4 giảm 1,50 (1%) xuống 1.325 USD/ounce.
Chỉ số đồng USD - thước đo giá trị đồng USD với giỏ các đồng tiền chủ chốt khác tăng nhẹ 0,03% lên 89,71. Đồng USD còn được kỳ vọng có thể còn tăng lên một mức cao mới nếu các nhà tạo lập chính sách của Mỹ phát ra tín hiệu đẩy nhanh tốc độ tăng lãi suất trong năm nay. Giới đầu tư tin tưởng đồng bạc xanh vẫn đang có một lực đỡ khá vững chắc trong ngắn hạn khi mà Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ có một cuộc họp chính sách tiền tệ ngay trong tháng này.
Giá vàng và đồng USD thường biến động trái chiều nhau. Nếu đồng USD tăng giá thì vàng kỳ hạn sẽ giảm giá do kim loại quý này được định giá bằng đồng USD trở nên kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư dùng các đồng tiền khác để giao dịch.
Tuy vậy, mức giảm của giá vàng bị hạn chế phần nào bởi sự đi xuống của thị trường chứng khoán Mỹ. Chỉ số công nghiệp Dow Jones đã giảm 248,91 điểm, tương đương 1%, xuống còn 24.758,12 điểm. Khi thị trường chứng khoán giảm điểm thì giá vàng thường nhận được sự hỗ trợ vì giới đầu tư có xu hướng tìm kiếm các tài sản an toàn.
Các chuyên gia khẳng định yếu tố chính trị đã ngăn đà giảm giá vàng mặc dù tỷ lệ lãi suất đang trong xu hướng tăng. Nhà phân tích kim loại quý Suki Cooper của Standard Chartered Bank không cho rằng giá sẽ tăng mạnh bởi lãi suất cao khiến vàng trở nên kém hấp dẫn.
Đồ thị phân tích kỹ thuật Fibonacci cho thấy mức giá hỗ trợ là 1.317,20 USD/ounce, còn mức kháng cự là 1.336,30 USD/ounce.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao tháng 5/2018 giảm 0,54% xuống 16,537 USD/ounce; giá bạch kim giao tháng 4/2018 chốt phiên giảm 5,80 USD (0,60%) xuống còn 961,50 USD/ounce.
Đối với nông sản, giá đường thô tăng 0,14 US cent (1,1%) lên 12,76 US cent/lb, trong khi đường trắng tăng 20 US cent (0,06%) lên 353,90 USD/tấn. Sản lượng tăng ở Ấn Độ và Thái Lan tiếp tục tác động đến thị trường đường, mặc dù sản lượng giảm ở Brazil.
Đối với cà phê, giá arabica giao tháng 5 giảm 0,5 US cent (0,4%) xuống 1,2105 USD/lb trong khi robusta giao cùng kỳ hạn giảm 11 USD (0,6%) xuống 1.752 USD/tấn.
Ngân hàng Rabobank đã hạ dự báo về mức dư thừa cà phê toàn cầu niên vụ 2018/19 do sản lượng có thể giảm ở Brazil. Theo đó, thế giới sẽ chỉ dư thừa khoảng 3,2 triệu bao chứ không phải 4,1 triệu bao như dự báo trước đây. Ngân hàng này cũng hạ dự báo về mức thiếu hụt trong niên vụ 2017/18 xuống 2,6 triệu bao, từ 4,1 triệu bao đưa ra lần trước. Số dư thừa này sẽ hoàn toàn là arabica, còn với robusta thì cung-cầu được cho là sẽ cân bằng trong niên vụ 2018/19 (ở niên vụ 2017/18 thị trường thiếu 2,1 triệu bao robusta và thiếu 500.000 bao arabica).
Theo Rabobank, sản lượng cà phê Brazil niên vụ 2018/19 sẽ đạt 56,8 triệu bao (báo cáo lần trước dự đoán là 59 triệu bao). Sản lượng của một số nước như Indonesia, Uganda, Papua New Guinea trong niên vụ 2017/18 cũng bị điều chỉnh giảm, nhưng tăng đối với Nicaragua và Ethiopia.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

60,98

+0,02

+0,03%

Dầu Brent

USD/thùng

64,93

+0,04

+0,06%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.200,00

+60,00

+0,15%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,74

+0,01

+0,18%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

192,17

-0,26

-0,14%

Dầu đốt

US cent/gallon

188,71

0,00

0,00%

Dầu khí

USD/tấn

571,75

+3,00

+0,53%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

55.500,00

-100,00

-0,18%

Vàng New York

USD/ounce

192,17

-0,26

-0,14%

Vàng TOCOM

JPY/g

188,71

0,00

0,00%

Bạc New York

USD/ounce

16,57

+0,03

+0,20%

Bạc TOCOM

JPY/g

56,40

-0,60

-1,05%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

962,74

+0,92

+0,10%

Palladium giao ngay

USD/ounce

992,76

+2,99

+0,30%

Đồng New York

US cent/lb

315,65

-0,20

-0,06%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.988,50

+43,50

+0,63%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.089,00

-14,00

-0,67%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.226,50

-68,50

-2,08%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.150,00

-10,00

-0,05%

Ngô

US cent/bushel

388,00

-0,75

-0,19%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

489,00

+0,25

+0,05%

Lúa mạch

US cent/bushel

257,00

+1,25

+0,49%

Gạo thô

USD/cwt

12,40

+0,06

+0,49%

Đậu tương

US cent/bushel

1.030,75

-1,50

-0,15%

Khô đậu tương

USD/tấn

370,90

0,00

0,00%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,70

-0,01

-0,03%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

517,40

-1,00

-0,19%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.556,00

+24,00

+0,95%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

121,05

-0,50

-0,41%

Đường thô

US cent/lb

12,76

+0,14

+1,11%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

139,40

+1,40

+1,01%

Bông

US cent/lb

83,44

+0,46

+0,55%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

484,40

-0,80

-0,16%

Cao su TOCOM

JPY/kg

193,20

-1,50

-0,77%

Ethanol CME

USD/gallon

1,52

-0,01

-0,39%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg