Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng do Saudi Arabia ngừng bơm dầu thô qua 1 đường ống dẫn dầu chính bởi máy bay không người lái tấn công nhằm vào đường ống dẫn dầu này.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 74 US cent (1,2%), lên 61,78 USD/thùng. Trong khi đó, tại thị trường London, giá dầu Brent Biển Bắc cũng tiến 1,01 USD (1,4%), lên 71,24 USD/thùng. Đây là mức đóng cửa cao nhất của dầu Brent kể từ ngày 6/5/2019 và của dầu WTI kể từ ngày 8/5/2019.
Diễn biến trên xảy ra giữa bối cảnh thị trường đang chờ đợi báo cáo từ Viện Dầu khí quốc gia Mỹ (API) về dự trữ năng lượng nước này, với dự đoán rằng lượng dự trữ dầu thô của Mỹ sẽ giảm 800.000 thùng trong tuần kết thúc ngày 10/5/2019, đánh dấu tuần sụt giảm thứ hai liên tiếp.
Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia, Khalid al-Falih, cho biết hai trạm bơm trên đường ống dẫn dầu từ các giếng dầu ở tỉnh miền Đông của nước này tới thành phố Yanbu nằm bên bờ Biển Đỏ đã là mục tiêu bị tấn công trong ngày 14/5. Đường ống dẫn dầu quan trọng này có chiều dài 1.200 km với công suất vận chuyển ít nhất 5 triệu thùng/ngày. Saudi Arabia coi đây là hành động khủng bố hai ngày sau khi các tàu chở dầu của nước này bị tấn công ngoài khơi bờ biển Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (UAE).
Tổ chức Các nước xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) cho biết nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ trên toàn cầu sẽ tăng cao hơn dự kiến trong năm nay trong khi tăng trưởng nguồn cung có thể chậm lại, nhất là trong trường hợp OPEC hạn chế nâng sản lượng.
Tuy nhiên, sản lượng dầu đá phiến của Mỹ dự kiến sẽ đạt mức “đỉnh” trong tháng Sáu tới, đạt 8,5 triệu thùng/ngày. Hiện thị trường đang hy vọng vào đàm phán thương mại Mỹ-Trung sau khi xuất hiện các tín hiệu tích cực mới đây.
Giá khí tự nhiên tại Mỹ tăng lên mức cao nhất 4 tuần trong phiên vừa qua, khi một nhà máy xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) mới bắt đầu sản xuất nhiên liệu siêu lạnh và dự báo nhu cầu trong tuần tới sẽ tăng hơn so với dự kiến trước đó.
Giá khí tự nhiên kỳ hạn tháng 6/2019 trên sàn New York tăng 3,8 US cent tương đương 1,4% lên 2,659 USD/mBTU, cao nhất kể từ ngày 12/4/2019, phiên tăng thứ 2 liên tiếp.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng rời khỏi mức cao nhất của một tháng, sau khi Mỹ và Trung Quốc nhất trí tiếp tục các cuộc đàm phán để chấm dứt cuộc chiến tranh thương mại kéo dài giữa đôi bên.
Kết thúc phiên giao dịch, vàng giao ngay giảm 0,3% xuống 1.295,18 USD/ounce, sau khi đạt mức 1.303,26 USD/ounce trong phiên trước đó và là mức cao nhất kể từ ngày 11/4/2019; vàng kỳ hạn giảm 0,4% xuống 1.296,3 USD/ounce.
Chỉ số đồng USD đã tăng khoảng 0,2% sau khi giảm xuống gần mức thấp của một tháng trong phiên trước. Chứng khoán Mỹ cũng đi lên theo sau bình luận lạc quan từ Washington và Bắc Kinh.
Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 14/5/2019 nói rằng cuộc đàm phán thương mại với Trung Quốc chưa sụp đổ và gọi cuộc chiến thuế quan Mỹ-Trung dai dẳng này chỉ là một “cuộc tranh cãi nhỏ”, ngay cả khi Mỹ sẵn sàng áp thuế 25% lên toàn bộ hàng hóa nhập khẩu còn lại từ Trung Quốc.
Các nhà đầu tư vàng sẽ phải cân nhắc tác động đối với nhu cầu vàng vật chất từ Trung Quốc nếu Mỹ và Trung Quốc không đạt được thỏa thuận thương mại, trong khi mức thuế cao đánh vào hàng hóa Trung Quốc cũng sẽ ảnh hưởng đến người tiêu dùng Mỹ, qua đó gây thêm sức ép lên nhu cầu vàng.
Nhà đầu tư cũng tiếp tục dõi theo căng thẳng leo thang giữa Mỹ và Iran sau khi Saudi Arabia cho biết hai tàu chở dầu của nước này nằm trong số những tàu bị tấn công ở ngoài khơi bờ biển Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (UAE).
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 0,1% lên 14,78 USD/ounce. Giá bạch kim giao ngay tăng 0,4% lên 856,66 USD/ounce, còn giá palađi giao ngay tăng 1,4% lên 1.340,52 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng tăng do các nhà đầu tư đẩy mạnh mua trong bối cảnh cung cầu vững. Giá đồng kỳ hạn trên sàn London tăng 0,3% lên 6.027 USD/tấn sau khi chạm mức thấp nhất 15 tuần trong phiên trước đó.
Giá thép tại Trung Quốc giảm xuống mức thấp nhất hơn 5 tuần, do lo ngại về nhu cầu trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ - Trung leo thang, ngay cả khi 2 bên bày tỏ lạc quan trong việc giải quyết tranh chấp.
Giá thép cây kỳ hạn trên sàn Thượng Hải giảm 1,6% xuống 3.663 CNY (532,94 USD)/tấn, trong phiên có lúc chạm 3.655 CNY/tấn, thấp nhất kể từ ngày 8/4/2019. Đồng thời, giá thép cuộn cán nóng sử dụng trong sản xuất ô tô và thiết bị gia dụng giảm 1,3% xuống 3.595 CNY/tấn.
Giá quặng sắt kỳ hạn trên sàn Đại Liên giảm 1,5% xuống 644,5 CNY/tấn, sau khi tăng 1,7% trong đầu phiên giao dịch, do lo ngại về nhu cầu thép tại Trung Quốc chậm lại gây áp lực đối với nguyên liệu sản xuất thép, bởi vậy giá quặng sắt bị xói mòn mức tăng trong đầu phiên giao dịch.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê Arabica kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn ICE tăng 1,35 US cent tương đương 1,5% lên 90,95 US cent/lb, tăng từ mức thấp nhất 13 năm (87,6 US cent/lb) trong đầu tháng này. Giá cà phê robusta giao cùng kỳ hạn trên sàn ICE tăng 46 USD tương đương 3,4% lên 1.392 USD/tấn, hồi phục khỏi mức thấp nhất 9 năm (1.267 USD/tấn) trong đầu tháng này. Capital Economics dự báo giá cà phê robusta có thể tăng lên 1.600 USD/tấn trong năm nay.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn ICE tăng 0,1 US cent tương đương 0,3% lên 11,94 US cent/lb. Giá đường trắng kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn ICE tăng 2,2 USD tương đương 0,6% lên 328,6 USD/tấn.
S&P Global Platts dự báo nguồn cung đường trên toàn cầu niên vụ 2019/20 có thể sẽ thiếu hụt 2,1 triệu tấn do sản lượng giảm trên toàn cầu, nhất là ở Châu Á.
Tại nước sản xuất đường lớn thứ 2 thế giới (Ấn Độ), sản lượng sẽ giảm xuống 28,4 triệu tấn, từ mức 32,86 triệu tấn của vụ 2018/19. Sản lượng của Thái Lan sẽ giảm xuống 12,9 triệu tấn, từ mức 14,6 triệu tấn vụ 2018/19.
Sản lượng giảm sẽ hỗ trợ giá, có thể đẩy giá các hợp đồng giao dịch đường kỳ hạn tăng lên trong 6 tháng tới.
Tuy nhiên, xu hướng tăng giá đường trong nửa năm tới sẽ bị hạn chế bởi giá ethanol cũng ở mức tương đương 13-14 UScent.
Bên cạnh đó, đà tăng giá đường còn bị cản trợ bởi tiêu thụ trì trệ, chủ yếu ở những nước phát triển, giữa bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm tới vấn đề sức khỏe.
S&P Global Platts dự báo tăng trưởng tiêu thụ đường toàn cầu niên vụ 2019/20 sẽ chỉ ở mức 0,9%, so với 1,2% của năm 2018/19.
Nếu giá dầu tăng, đường sẽ được hậu thuẫn tích cực bởi tỷ lệ mía dùng sản xuất ethanol sẽ tăng lên. Tỷ lệ ethanol pha trộn trong xăng ở ethanol sẽ tăng lên 37,5% do nhu cầu nhiên liệu ở nước này vẫn mạnh mà công suất lọc dầu trong nước đã gần chạm ngưỡng.
Giá ngô tăng hơn 3% và giá đậu tương tăng trở lại từ mức thấp nhất 1 thập kỷ, do tiến độ trồng trọt khu vực vành đai trung tây Mỹ chậm lại, đã khiến các thương nhân đẩy mạnh mua vào. Ngoài ra, những bình luận lạc quan từ Washington và Bắc Kinh làm giảm bớt lo ngại về cuộc chiến thương mại leo thang hơn nữa, đã hỗ trợ thị trường.
Giá ngô kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn Chicago tăng 12 US cent lên 3,68-1/2 USD/bushel. Giá đậu tương giao cùng kỳ hạn trên sàn Chicago tăng 26-1/2 US cent lên 8,29 USD/bushel, sau khi giảm xuống 7,91 USD/bushel trong phiên trước đó, thấp nhất kể từ tháng 12/2008. Giá lúa mì kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn Chicago tăng 8-1/2 US cent lên 4,45-1/2 USD/bushel.
Giá dầu cọ tại Malaysia tăng phiên thứ 2 liên tiếp, được hỗ trợ bởi giá dầu thực vật có liên quan tăng và đồng ringgit suy yếu. Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn Bursa Malaysia tăng 0,3% lên 1.991 ringgit (477,57 USD)/tấn, trước đó trong phiên tăng 1,1% lên 2.006 ringgit/tấn.
Giá dầu thực vật hồi phục và đồng nội tệ mất giá đẩy giá dầu cọ tăng cao, thương nhân có trụ sở tại Kuala Lumpur cho biết. Giá đậu tương tăng bất chấp Trung Quốc tuyên bố áp đặt thuế quan tăng cao đối với 1 loạt hàng hóa của Mỹ, sau quyết định của Washington nâng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc có trị giá 200 tỉ USD.
Giá cao su tại Tokyo giảm theo xu hướng yếu tại Thượng Hải do lo ngại nhu cầu yếu trong bối cảnh chiến tranh thuế quan Mỹ - Trung leo thang. Giá cao su kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn TOCOM giảm 1,4 JPY tương đương 0,7% xuống 185,9 JPY (1,7 USD)/kg. Giá cao su kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Thượng Hải giảm 270 CNY xuống 11.540 CNY (1.676 USD)/tấn.
Giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 11/2019 trên sàn TOCOM giảm 1,4% xuống 160 JPY/kg.
Nhà phân tích Jiong Gu thuộc Yutaka Shoji Co. cho biết: "Chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc gia tăng có thể khiến nền kinh tế toàn cầu suy yếu và nhu cầu cao su tại thị trường Tokyo và Thượng Hải giảm. Giá cao su trên sàn TOCOM có thể xuống dưới 180 JPY/kg, song có thể tăng trong ngắn hạn đối với hợp đồng tháng 5 và tháng 6, do thời tiết khô hơn bình thường tại khu vực Đông Nam Á đã hạn chế sản lượng, dấy lên lo ngại nguồn cung thắt chặt, đẩy giá tăng cao".
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

68,78

+0,74

+1,2%

Dầu Brent

USD/thùng

71,24

+1,01

+1,4%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

45.060,00

+330,00

+0,74%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,65

-0,01

-0,23%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

197,55

-0,12

-0,06%

Dầu đốt

US cent/gallon

205,54

-0,35

-0,17%

Dầu khí

USD/tấn

637,50

+1,25

+0,20%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

61.530,00

+190,00

+0,31%

Vàng New York

USD/ounce

1.297,70

+1,40

+0,11%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.563,00

-3,00

-0,07%

Bạc New York

USD/ounce

14,80

-0,01

-0,08%

Bạc TOCOM

JPY/g

52,10

0,00

0,00%

Bạch kim

USD/ounce

858,54

+2,15

+0,25%

Palađi

USD/ounce

1.338,83

-0,61

-0,05%

Đồng New York

US cent/lb

273,05

+0,55

+0,20%

Đồng LME

USD/tấn

6.027,00

+16,00

+0,27%

Nhôm LME

USD/tấn

1.844,50

+35,50

+1,96%

Kẽm LME

USD/tấn

2.594,00

+27,00

+1,05%

Thiếc LME

USD/tấn

19.795,00

+470,00

+2,43%

Ngô

US cent/bushel

369,75

+1,00

+0,27%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

449,25

+0,75

+0,17%

Lúa mạch

US cent/bushel

284,50

-1,50

-0,52%

Gạo thô

USD/cwt

10,96

-0,05

-0,50%

Đậu tương

US cent/bushel

831,00

-0,50

-0,06%

Khô đậu tương

USD/tấn

298,10

+0,10

+0,03%

Dầu đậu tương

US cent/lb

27,01

+0,01

+0,04%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

442,00

-0,40

-0,09%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.293,00

+6,00

+0,26%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

90,95

+1,35

+1,51%

Đường thô

US cent/lb

11,94

+0,10

+0,84%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

101,70

+5,90

+6,16%

Bông

US cent/lb

67,08

+0,32

+0,48%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

335,90

-7,60

-2,21%

Cao su TOCOM

JPY/kg

185,50

-0,40

-0,22%

Ethanol CME

USD/gallon

1,33

+0,03

+2,15%

Nguồn: Bloomberg, Reuters, CafeF