Trên thị trường năng lượng, giá dầu đảo chiều tăng khá mạnh theo xu hướng của thị trường chứng khoán, sau khi Trung Quốc tỏ ý sẽ đưa ra các chính sách ổn định nền kinh tế hiện đang giảm tốc.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao kỳ hạn tăng 1,6 USD (hay 3,2%) lên 52,11 USD/thùng; dầu Brent Biển Bắc tăng 1,65 USD (2,8%) lên 60,64 USD/thùng.
Diễn biến của phiên này hoàn toàn trái ngược với phiên trước đó, khi giá hai loại dầu chủ chốt này giảm hơn 2% do số liệu yếu kém về hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu tháng 12/2018 của Trung Quốc. Theo Gene McGillian, Giám đốc mảng nghiên cứu thị trường của Tradition Energy ở Stamford (Mỹ), những lo ngại về nguy cơ nền kinh tế suy giảm trong năm 2019 dường như đã tạm lắng xuống khi thị trường đón nhận những thông tin báo hiệu rằng nền kinh tế có thể diễn tiến tốt hơn dự kiến.
Ủy ban Cải cách và Phát triển quốc gia Trung Quốc vừa phát đi tín hiệu sẽ tung thêm các biện pháp kích thích kinh tế.
Thị trường còn được hỗ trợ bởi Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các nước đồng minh không thuộc tổ chức này, trong đó có Nga đang cắt giảm sản lượng theo thỏa thuận, nhằm hạn chế tình trạng dôi dư nguồn cung.
Ngoài ra, việc Mỹ tái áp đặt các lệnh trừng phạt Iran và những biến chuyển trong quan hệ thương mại Mỹ - Trung sau cuộc đàm phán tại Bắc Kinh tuần trước cũng hậu thuẫn thị trường dầu mỏ. Một thông tin nữa cũng góp phần đẩy giá dầu tăng lên, đó là số giàn khoan mới của Mỹ giảm nhẹ và dự trữ dầu thô của Mỹ giảm tuần thứ 4 liên tiếp.
Về yếu tố cơ bản, việc OPEC và một số nước khác, trong đó có Nga, cắt giảm sản lượng bắt đầu giúp thị trường giảm bớt lo ngại về nguồn cung. OPEC+ sẽ họp vào ngày 17 và 18/3 tới để kiểm tra việc thực hiện thỏa thuận này, sau đó sẽ họp tiếp vào ngày 17 và 18/4/2019 để quyết định có gia hạn việc giảm sản lượng thêm 6 tháng nữa hay không.
Tuy nhiên, đà tăng khá mạnh vào đầu phiên đã phần nào mất đà sau khi Hạ viện Anh đã bỏ phiếu phản bác thỏa thuận về Brexit mà Thủ tướng Theresa May và các lãnh đạo EU đã nhất trí trước đó..
Bên cạnh đó, cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ vẫn dự báo sản lượng dầu thô nước này sẽ đạt kỷ lục mới, hơn 12 triệu thùng/ngày, trong năm 2019, và tiếp tục tăng lên 13 triệu thùng vào năm 2020.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng ổn định trong bối cảnh USD và chứng khoán mạnh lên.
Giá vàng giao ngay vững ở mức 1.289,35 USD/ounce, trong khi đó vàng giao sau giảm 0,2% xuống 1.288,40 USD/ounce.
Ngày 15/1/2019, với tỷ lệ 202 phiếu thuận và 432 phiếu chống, Hạ viện Anh đã bỏ phiếu phản đối thỏa thuận nước Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) mà Thủ tướng May và các lãnh đạo EU đã nhất trí. Chiến lược gia Bob Haberkorn, thuộc RJO Futures, nhận định mặc dù diễn biến mới này đã làm gia tăng sự thiếu chắc chắn về tình hình địa chính trị, song sự mạnh lên của đồng USD và thị trường chứng khoán đã “triệt tiêu” đà tăng giá của vàng.
Phiên này, các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới nhận được trợ giúp từ kế hoạch ổn định kinh tế của Trung Quốc. Trong khi đồng USD lên giá, sau khi số liệu yếu kém của kinh tế Đức “đè nặng” lên đồng euro.
Dù vậy, các nhà phân tích lưu ý mối lo ngại ngày càng tăng về triển vọng kinh tế toàn cầu sau các số liệu bi quan gần đây, và đây vẫn là yếu tố có lợi cho thị trường vàng. MKS PAMP Group dự báo giá vàng sẽ ở mức trung bình 1.335 USD/ounce trong năm 2019.
Về những kim loại quý khác, giá bạch kim tăng 0,3% lên 796 USD/ounce; giá bạc không thay đổi và giữ ở mức 15,57 USD/ounce. Palađi vững ở 1.317,5 USD/ounce, tiếp tục cao hơn giá vàng, nhưng không còn giữ được mức cao nhất lịch sử 1.342,43 USD/ounce đạt được vào tuần trước.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, thông tin Trung Quốc sẽ đưa ra những chương trình kích thích mạnh mẽ hơn nữa và hy vọng về việc Mỹ - Trung sẽ đạt được những kết quả đàm phán tích cực cũng hỗ trợ giá kim loại cơ bản vững. Đồng giao sau 3 tháng trên sàn London tăng nhẹ 0,4% lên 5.290 USD/tấn; nhôm giao cùng kỳ hạn cũng tăng 1% lên 1.845,50 USD/tấn.
Tuy nhiên, dự báo dư cung đồng khiến giá đồng giao ngay thấp hơn tới 31,5 USD/tấn so với hợp đồng 3 tháng (cao nhất 5 tháng). Tương tự, dự báo cung nhôm sẽ tăng sau khi Rusal bổ sung nguồn cung vào thị trường từ tháng tới cũng khiến giá nhôm giao ngay thấp hơn tới 29 USD/tấn so với hợp đồng 3 tháng (nhiều nhất trong vòng 4 tháng).
Và dù tăng, giá đồng vẫn đang quanh mức cao nhất 18 tháng sau khi giảm 20% kể từ tháng 6 năm ngoái.
Giá thép tại Trung Quốc đảo chiều giảm do lo ngại triển vọng nhu cầu ở thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới này.
Thép cây trên sàn Thượng Hải giảm gần 1% xuống 3.519 CNY (521,06 USD)/tấn. Thép cuộn cán nóng giảm 0,8% xuống 3.416 CNY/tấn.
Nhu cầu hiện đang thấp, trong khi sản lượng vẫn ở mức cao. Theo Chủ tịch Viện Nghiên cứu Chiến lược ngành luyện kim Trung Quốc, sản lượng thép thô nước này năm 2018 ước đạt 923 triệu tấn, trước khi giảm nhẹ xuống 900 triệu tấn trong năm 2019. Ngành thép Trung Quốc năm 2019 sẽ tập trung nhiều hơn vào việc cơ cấu lại công suất sản xuất.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô trên sàn New York vừa đạt mức cao nhất gần 7 tuần bởi lượng mua mạnh sau khi giá dầu tăng và những ngày qua giá giảm thấp đến mức đủ hấp dẫn nhà đầu tư mua vào. Đường giao sau 3 tháng tăng 0,41 US cent tương đương 3,1% lên 13,19 USD/lb vào lúc đóng cửa giao dịch, trước đó có lúc đạt 13,19 US cent. Trong khi đó, đường trắng trên sàn London tăng 11,30 USD tương đương 3,3% lên 354,8 USD/tấn vào cuối phiên, sau khi có lúc đạt 355,80 USD/tấn, cao nhất kể từ 5/11/2018.
Xuất khẩu đường của Ấn Độ có thể thấp hơn nhiều so với mức mục tiêu 5 triệu tấn bất chấp chính phủ thúc đẩy doanh số bán hàng quốc tế. Kênh truyền kình ET Now đưa tin, Chính phủ Ấn Độ đang xem xét tăng giá bán đường tối thiểu. Động thái này có thể nhằm giúp người nông dân, những người đang gặp khó khăn trong việc xuất khẩu lượng đường thặng dư vì sự sụt giảm của giá đường toàn cầu và đồng rupee mạnh mẽ.
Nhập khẩu giảm từ nhà sản xuất đường thứ hai thế giới có thể hỗ trợ giá đường toàn cầu, vốn đã giảm hơn 20% trong năm 2018, nhưng điều này có thể làm tăng lượng dự trữ tại Ấn Độ trước mùa vụ tiếp theo. Ấn Độ có thể xuất khẩu khoảng 2,5 - 3 5 triệu tấn đường trong năm tài chính 2018 - 2019, bắt đầu từ ngày 1/10/2018.
Giá cà phê arabica giao tháng 3/2019 giảm 1,5 US cent tương đương 1,4% xuống 1,013 USD/lb, trong khi robusta giao cùng kỳ hạn giảm 1 USD tương đương 0,1% xuống 1,527 USD/tấn. Sản lượng cà phê Brazil dự báo sẽ bội thu, và điều này đang gây áp lực giảm giá cà phê.
Thời tiết khắc nghiệt, bão lũ và lở đất trong đợt gió mùa tháng 8 - 9 năm 2018 đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến năng suất, thậm chí cuốn trôi các đồn điền, làm cho sản lượng cà phê của Ấn Độ giảm gần một nửa trong vụ thu hoạch này. Theo ước tính trước đó, sản lượng cà phê của Ấn Độ sẽ đạt 300.000 tấn trong vụ mùa này. Chủ tịch của Coffee Trust Ấn Độ, ông Anil Kumar Bhandari cho rằng gió mùa và mưa lũ khiến mùa màng thiệt hại trên diện rộng và sản lượng thu hoạch hiện tại thấp hơn 50% so với thông thường.
Giá sữa quốc tế tăng trong phiên đấu giá mới nhất vừa diễn ra hôm qua, kéo dài chuỗi 2 tháng tăng giá liên tiếp sau khi giảm trong gần suốt cả năm vừa qua. Chỉ số giá sữa toàn cầu (GDT Price Index) tăng 4,2%, đạt trung bình 3.057 USD/tấn. Phiên trước đó (cách đây 2 tuần), chỉ số này đã tăng 2,8%, và đã tăng 4 phiên liên tiếp. Giá sữa bột gạn kem tăng 10,3%, trong khi sữa bột nguyên kem tăng 3%.
Giá cao su kỳ hạn trên sàn Tokyo sụt giảm trong phiên vừa qua theo xu hướng giá tại Thượng Hải trong bối cảnh nhu cầu yếu, thể hiện ở việc tiêu thụ xe hơi tại Trung Quốc năm 2018 giảm và nhập khẩu cao su vào nước này trong tháng 12/2019 cũng đi xuống.
Hợp đồng kỳ hạn giao tháng 6/2019 trên sàn Tokyo giảm 0,7 JPY tương đương 0,0064 USD xuống 182,8 JPY/kg; hợp đồng giao tháng 7/2019 giảm 2,5 JPY xuống 151 JPY/kg.
Tại Thượng Hải, hợp đồng giao tháng 5/2019 giảm 60 CNY (8,89 USD) xuống 11.505 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

52,11

+1,60

+3,2%

Dầu Brent

USD/thùng

60,64

+1,65

+2,8%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

39.870,00

+350,00

+0,89%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,50

-0,09

-2,51%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

141,14

+4,76

+3,49%

Dầu đốt

US cent/gallon

187,22

+1,97

+1,06%

Dầu khí

USD/tấn

563,25

-4,50

-0,79%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

55.310,00

+170,00

+0,31%

Vàng New York

USD/ounce

1.288,40

-2,90

-0,22%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.491,00

-3,00

-0,07%

Bạc New York

USD/ounce

15,62

-0,07

-0,42%

Bạc TOCOM

JPY/g

55,10

+0,30

+0,55%

Bạch kim

USD/ounce

800,50

+0,91

+0,11%

Palađi

USD/ounce

1.324,08

+1,34

+0,10%

Đồng New York

US cent/lb

264,20

+0,75

+0,28%

Đồng LME

USD/tấn

5.897,00

-45,00

-0,76%

Nhôm LME

USD/tấn

1.828,00

-8,00

-0,44%

Kẽm LME

USD/tấn

2.484,00

-8,00

-0,32%

Thiếc LME

USD/tấn

20.475,00

+175,00

+0,86%

Ngô

US cent/bushel

371,25

-7,25

-1,92%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

511,00

-3,25

-0,63%

Lúa mạch

US cent/bushel

292,50

-7,50

-2,50%

Gạo thô

USD/cwt

10,38

-0,20

-1,94%

Đậu tương

US cent/bushel

893,25

-10,25

-1,13%

Khô đậu tương

USD/tấn

309,30

-2,50

-0,80%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,24

-0,16

-0,56%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

475,80

-3,90

-0,81%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.274,00

-67,00

-2,86%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

101,30

-1,45

-1,41%

Đường thô

US cent/lb

13,16

+0,41

+3,22%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

121,40

+0,65

+0,54%

Bông

US cent/lb

72,36

-0,63

-0,86%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

353,40

+15,00

+4,43%

Cao su TOCOM

JPY/kg

180,80

-2,00

-1,09%

Ethanol CME

USD/gallon

1,27

-0,01

-1,09%

Nguồn: VITIC/Bloomberg. Reuters. CafeF