USD giảm xuống mức thấp nhất gần 3 năm so với rổ các đồng tiền đối tác chủ chốt, tính chung cả tuần này giảm mạnh nhất trong vòng 9 tháng do nhiều yếu tố tác động, bất chấp việc lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng và lạm phát mạnh lên. Như vậy, đồng USD đã giảm giá 4 phiên liên tiếp.

Chỉ số USD, chỉ số đo biến động của đồng USD so với 6 loại tiền tệ lớn khác, giảm 0,5% xuống 88,58 điểm vào cuối phiên thứ Năm.
Bộ Lao động Mỹ cho biết Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của nước này tăng 0,5% trong tháng 1/2018 khi các hộ gia đình chi trả nhiều hơn tiền mua xăng, tiền thuê nhà, chi phí chăm sóc sức khỏe, làm gia tăng sức ép lên tân Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell trong việc ngăn ngừa khả năng nền kinh tế trở nên quá "nóng". Lo ngại về lạm phát hỗ trợ giá vàng, song các dự đoán Fed sẽ tăng lãi suất để ngăn ngừa lạm phát lại làm giảm sức hấp dẫn của kim loại quý này.
Sau khi số liệu về lạm phát được công bố, giới đầu tư kỳ vọng nhiều hơn vào khả năng Fed sẽ nâng lãi suất. Tuy nhiên khi mà doanh số bán lẻ gây thất vọng, nhà đầu tư băn khoăn về khả năng liệu lạm phát tại Mỹ có tăng ổn định.
“Chênh lệch lãi suất trên toàn cầu lý giải cho việc tại sao đồng USD không thể tăng giá kể cả khi lạm phát Mỹ vượt kỳ vọng. Chỉ số giá tiêu dùng tại Anh tháng 1/2018 tăng cao hơn dự báo, đó có thể coi như chỉ báo cho thấy lạm phát đăng tăng cao trên toàn cầu. Chúng tôi tin rằng phản ứng chính sách của các chính phủ trên thế giới rồi sẽ đồng nhất”, trưởng bộ phận nghiên cứu tại London Capital Group, ông Jasper Lawler, nhận xét.
Ông nói thêm khi mà Ngân hàng Trung ương châu Âu, Ngân hàng Trung ương Anh, Ngân hàng Trung ương Nhật cùng thắt chặt chính sách, lợi suất trái phiếu chính phủ Nhật sẽ tăng nhanh hơn lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ, khi đó, đồng euro, bảng Anh và yên Nhật sẽ hấp dẫn hơn đồng USD.
Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng do USD giảm giá mạnh trong bối cảnh giao dịch tại châu Á trầm lắng vì nhiều thị trường nghỉ Tết cổ truyền.
Dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 3 trên sàn New York tăng 16 US cent tương đương 0,3% lên 61,50 USD/thùng, sau khi kết thúc phiên vừa qua tăng 74 US cent. Tính chung cả tuần, giá tăng gần 4% sau khi giảm gần 10% hồi tuần trước.
Dầu Brent trên sàn London tăng 26 US cent tương đương 0,4% lên 64,59 USD/thùng, sau khi giảm 3 USD lúc đóng cửa phiên trước. Dầu Brent tăng giá gần 3% trong tuần sau khi giảm hơn 8% trong tuần trước.
Đồng USD yếu đi đang hậu thuẫn giá dầu tăng bởi dầu tính theo USD nên trở nên rẻ hơn khi các nhà đầu tư mua bằng những loại tiền tệ khác.
Bên cạnh đó, số liệu từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho thấy dự trữ dầu thô tại nước này đã tăng 1,8 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 9/2, thấp hơn so với dự kiến tăng 2,8 triệu thùng mà các chuyên gia dự báo.
Saudi Arabia hồi tháng trước đã kêu gọi mở rộng hợp tác giữa các nước trong và ngoài Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) sau năm 2018, sau khi thỏa thuận cắt giảm sản lượng đã có hiệu quả trong việc đẩy giá dầu lên. Giá dầu đã giảm từ mức trên 110 USD/thùng trong năm 2014 xuống khoảng 30 USD/thùng vào đầu năm 2016. Tuy nhiên, thị trường đã chứng kiến sự đảo chiều kể từ thời điểm đó và giá dầu hiện đang được giao dịch ở mức trên 60 USD/thùng.
Tuy nhiên, thị trường vẫn thường trực nỗi lo về sản lượng dầu tăng mạnh tại Mỹ, trong khi nhu cầu dầu thế giới có dấu hiệu tăng chậm. Tuần trước, Bộ Năng lượng Mỹ thông báo sản lượng dầu đá phiến của quốc gia này đã vượt 10 triệu thùng/ngày, lần đầu tiên kể từ năm 1970, và ước tính đạt 10,25 triệu thùng/ngày trong tháng 1/2018.
Trong khi đó, OPEC dự báo nhu cầu dầu toàn cầu năm 2018 sẽ tăng 1,53 triệu thùng/ngày.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giao ngay vững ở 1.353,51 USD/ounce, sau khi có lúc chạm mức cao nhất 3 tuần là 1.357,08 USD ở phiên giao dịch trước; vàng giao sau tăng nhẹ 0,1% lên 1.356,2 USD/ounce. Tính chung cả tuần, giá vàng tăng 2,7%, mức tăng mạnh nhất kể từ 29/4/2016.
USD yếu cũng đang hỗ trợ đắc lực cho giá vàng tăng.
Đối với nông sản, giá đường thô giao tháng 5 tăng 0,2 US cent tương đương 1,5% lên 13,51 US cent/lb, trong khi đường trắng giao cùng kỳ hạn tăng 4 USD tương đương 1,1% lên 361,10 USD/tấn.
Các quỹ đầu cơ tiếp tục bán các hợp đồng kỳ hạn xa để mua các hợp đồng kỳ hạn gần, khiến cho mức cộng giá hợp đồng giao tháng 3 so với tháng 5 lên tới 0,18 US cent hiện nay.
Cà phê biến động trái chiều, với hợp đồng robusta giao tháng 5 giá tăng 1 USD tương đương 0,06% lên 1.783 USD/tấn, trong khi arabica giao cùng kỳ hạn giảm 0,95 US cent tương đương 0,8% xuống 1,2415 USD/lb.
Terra Forte dự báo Brazil sẽ thu hoạch kỷ lục 95,15 triệu bao cà phê trong niên vụ 2018/19.
Đậu tương đang tiến tới tuần tăng giá mạnh nhất trong vòng 7 tháng do lo ngại thời tiết khô hạn ở Argentina sẽ gây hại tới sản lượng.
Đậu tương trên sàn Chicago giá tăng 4% trong tuần này, mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 7/2017. Trong khi đó, giá ngô tăng 1,5% trong tuần, là tuần thứ 5 tăng giá, còn lúa mì tăng hơn 3%, đưa mức tăng trong 5 tuần qua lên hơn 10%.
Sản lượng đậu tương vụ 2017/18 của Argentina dự báo sẽ thấp hơn 50 triệu tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

61,47

+0,13

+0,21%

Dầu Brent

USD/thùng

64,58

+0,25

+0,39%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

39.970,00

-470,00

-1,16%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,58

0,00

-0,08%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

174,35

+0,77

+0,44%

Dầu đốt

US cent/gallon

189,89

+0,73

+0,39%

Dầu khí

USD/tấn

565,00

+7,75

+1,39%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

54.620,00

-600,00

-1,09%

Vàng New York

USD/ounce

1.357,50

+2,20

+0,16%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.615,00

-14,00

-0,30%

Bạc New York

USD/ounce

16,84

+0,04

+0,23%

Bạc TOCOM

JPY/g

57,70

-0,30

-0,52%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.003,65

+1,55

+0,15%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

1.020,42

-0,61

-0,06%

Đồng New York

US cent/lb

324,45

-0,10

-0,03%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.182,00

+19,00

+0,27%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.165,00

-12,50

-0,57%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.570,00

+2,50

+0,07%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.570,00

+20,00

+0,09%

Ngô

US cent/bushel

368,00

+0,25

+0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

476,50

+1,25

+0,26%

Lúa mạch

US cent/bushel

270,75

+0,25

+0,09%

Gạo thô

USD/cwt

11,95

0,00

0,00%

Đậu tương

US cent/bushel

1.035,25

+0,25

+0,02%

Khô đậu tương

USD/tấn

377,40

+1,90

+0,51%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,86

-0,04

-0,13%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

505,90

+0,10

+0,02%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.134,00

+50,00

+2,40%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

124,15

-0,95

-0,76%

Đường thô

US cent/lb

13,51

+0,20

+1,50%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

147,60

-0,20

-0,14%

Bông

US cent/lb

76,64

-0,13

-0,17%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

500,70

+0,10

+0,02%

Cao su TOCOM

JPY/kg

180,50

-5,50

-2,96%

Ethanol CME

USD/gallon

1,49

+0,03

+2,20%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg