Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm mạnh sau khi các cảng của Libya mở cửa trở lại trong bối cảnh Nga và các nước sản xuất dầu chủ chốt khác nâng sản lượng.
Giá dầu Brent Biển Bắc giao kỳ hạn giảm 3,49 USD (hay 4,63%) xuống 71,84 USD/thùng, trong phiên có lúc giá chỉ 71,52 USD/thùng, mức thấp kể từ giữa tháng 4/2018; dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giảm 2,95 USD (4,15%) xuống 68,06 USD/thùng.
Tuần trước khi trả lời phỏng vấn của báo giới, Bộ trưởng Năng lượng Nga Alexander Novak cho hay nước này và các nhà sản xuất dầu khác có thể tăng sản lượng thêm khoảng 1 triệu thùng/ngày hoặc nhiều nữa nếu thị trường thiếu hụt nguồn cung.
Ngoài ra, Mỹ thông báo có thể khai thác kho dự trữ dầu mỏ chiến lược của mình cho thấy nguồn cung cấp cho thị trường sẽ được bổ sung. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ ( EIA) sản lượng dầu của Mỹ từ 7 khu vực đá phiến chủ chốt dự kiến tăng 143.000 thùng/ngày lên mức kỷ lục 7,47 triệu thùng/ngày trong tháng 8/2018. Sản lượng dự kiến tăng tại tất cả 7 khu vực, với mức tăng mạnh nhất 73.000 thùng/ngày tại lưu vực Permian của Texas và New Mexico. Tất cả khu vực dầu đá phiến ngoại trừ Appalachia đều ở mức cao. EIA cho biết các nhà sản xuất đã khoan 1.436 giếng khoan và hoàn thành 1.243 giếng tại cơ sở đá phiến lớn nhất trong tháng 6, đưa tổng số giếng khoan chưa hoàn thành tăng 193 giếng lên mức cao kỷ lục 7,943 giếng.
Những lo ngại về đà tăng trưởng GDP của Trung Quốc chậm lại cũng tác động đến giá dầu trong phiên ngày 16/7/2018. Nền kinh tế này đã tăng trưởng với nhịp độ chậm hơn trong quý 2/2018 giữa bối cảnh những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm hạn chế nợ làm tổn thương đến các hoạt động khác, trong khi sản lượng công nghiệp tháng Sáu giảm xuống mức thấp của hai năm do cuộc tranh chấp thương mại với Mỹ.
Tuy nhiên, sản lượng dầu tại Libya vẫn đang trong trạng thái bấp bênh. Tập đoàn Dầu mỏ quốc gia Libya (NOC) cho biết mặc dù các cảng tại nước này mở cửa trở lại, song sản lượng tại mỏ dầu Sharara của Libya dự kiến sẽ giảm ít nhất 160.000 thùng/ngày sau khi hai công nhân bị một nhóm vũ trang bắt cóc.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng ít biến động do nhu cầu thị trường ở nhiều khu vực thấp và kỳ vọng lãi suất ở Mỹ tăng. Vàng giao ngay giảm 0,2% xuống 1.239,11 USD/oune, vàng giao tháng 8/2018 khép phiên giảm 1,5 USD (0,1%) xuống 1.239,70 USD/ounce.
Tỷ giá đồng USD giảm giúp giá vàng (thường được định giá bằng đồng USD) rẻ đi đối với các nhà đầu tư nắm giữ các đồng tiền khác. Tuy nhiên, các nhà đầu tư cho rằng nhu cầu tiêu dùng kim loại quý này thấp tại các thị trường tiêu thụ hàng đầu ở châu Á, như Trung Quốc và Ấn Độ, và sự kỳ vọng Mỹ sẽ tăng tiếp lãi suất đã tạo áp lực lên giá vàng.
Ngoài ra, có nhiều yếu tố khác tác động đến giá vàng, như nền kinh tế Trung Quốc giảm tốc trong quý 2/2018 khi Bắc Kinh nỗ lực cắt giảm nợ, và sản lượng công nghiệp tháng 6/2018 ở mức thấp nhất trong hai năm qua.
Trong khi đó, nhập khẩu vàng của Ấn Độ trong tháng 6/2018 giảm xuống 44 tấn, do đồng nội tệ rupee yếu đi làm giá mặt hàng này tăng lên mức cao nhất trong gần 21 tháng qua.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 0,1% xuống 15,77 USD/ounce, bạch kim giảm 0,2% xuống 824,10 USD/ounce sau khi vào đầu phiên rơi xuống 914,75 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ ngày 9/4/2018, palađi giảm 2,2% xuống còn 916.47 USD/oz, trước đó giảm xuống còn 914.75, mức thấp nhất kể từ ngày 9/4/2018.
Trên thị trường sắt thép, giá thanh cốt thép tại Trung Quốc ngày 17/7/2018 giảm phiên thứ hai liên tiếp trong bối cảnh số liệu cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chậm lại và tranh chấp thương mại với Mỹ gia tăng. Thanh cốt thép kỳ hạn giao sau giảm 0,9% xuống còn 3.925 NDT (588,01 USD)/tấn, trong khi đó hợp đồng giao ngay giảm 0,1% xuống còn 4.346,37 NDT/tấn. Giá quặng sắt kỳ hạn thay đổi nhẹ trong đầu phiên giao dịch ở mức 464,5 NDT/tấn. Vale Brazil báo cáo sản lượng quặng sắt trong quý 2/2018 đạt mức cao kỷ lục.
Trái với xu hướng giảm tại Trung Quốc, giá thép tại Mỹ hiện đang tăng nhanh do Mỹ áp đặt mức thuế 25% đối với sản phẩm thép nhập khẩu, hoạt động đầu cơ thép đã đẩy giá tăng cao hơn, và các ngành công nghiệp Mỹ gặp khó khăn trong năm 2018. Mức thuế cao của Mỹ đã làm tổn thương các nước xuất khẩu và phá hủy phân công lao động quốc tế; trong khi đó, các biện pháp thương mại này cũng làm suy giảm hiệu quả hoạt động trong các ngành công nghiệp hạ nguồn của Mỹ và làm giảm lợi thế cạnh tranh của thị trường.
Giá vật liệu xây dựng đường bộ và xây dựng tăng mạnh trong tháng 6 do thuế nhập khẩu và một số nhà thầu xây dựng phải chịu chi phí sản xuất cao hơn. Nhà kinh tế học chính của AGC giải thích rằng nhiều dự án xây dựng có nguy cơ giảm lợi nhuận hoặc hoãn dự án bởi vì hầu hết giá vật liệu xây dựng đã tăng mạnh trong vài tháng qua. Thuế thép và các biện pháp thương mại của Mỹ sẽ tiếp tục đẩy tăng chi phí sản xuất.
Nhập khẩu thép của Mỹ đạt khoảng 2,9 triệu trong tháng 6/2018, giảm 3,7% so với 3 triệu tấn trong tháng 5/2018. Trong số đó, Hàn Quốc cung cấp các sản phẩm thép thành phẩm nhiều nhất với 21.000 tấn, tăng 80% so với tháng trước; Nhật Bản bán 13.000 tấn, tăng 11% so với tháng trước; Đài Loan tăng 32% so với tháng trước, đạt 10.000 tấn. Trong 5 tháng đầu năm nay, Hàn Quốc là nước cung cấp chính với tổng số 1,7 triệu tấn, giảm 10% so với cùng kỳ năm trước; tiếp theo là Nhật Bản với khoảng 74.000 tấn, giảm 7% so với năm trước; Đức với khoảng 65.000 tấn, tăng 9% so với cùng kỳ.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô giao tháng 10 tăng 0,18 US cent tương đương 1,6% lên 11,14 USD/lb do lo ngại thời tiết khô hạn ở Brazil, trong khi đường trắng giao cùng kỳ hạn tăng 3,6 USD tương đương 1,1% lên 330,30 USD/tấn.
Giá cà phê arabica giao tháng 9 tăng 0,4% lên 1,103 USD/lb, trong khi robusta giao cùng kỳ hạn tăng 4 USD tương đương 0,2% lên 1.670 USD/tấn.
Giá đậu tương kỳ hạn tại Chicago đầu phiên cuống mức thấp nhất 1 thập kỷ, nhưng đã hồi phục trở lại vào cuối phiên do lo ngại cuộc chiến thương mại Mỹ Trung sẽ làm giảm nhu cầu tiêu thụ trên thị trường hạt có dầu. Giá đậu tương kỳ hạn tháng 11 tại Chicago chốt ngày tăng 1,4% lên 8,45-3/4 USD/bushel, sau khi chạm mức thấp 8,26-1/4 USD/bushel vào đầu phiên. Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) giảm dự báo xuất khẩu đậu tương Mỹ năm 2018/19 thêm 250 triệu bushel và dự báo dự trữ cuối vụ đạt mức cao kỷ lục. Nhập khẩu đậu tương của Trung Quốc trong tháng 6 đã tăng 13,1% so với cùng kỳ năm ngoái do người mua tăng cường mua hàng của Brazil.
Với mặt hàng cao su, giá tại Malaysia tăng cao vào lúc đóng cửa do nhu cầu tiêu thụ tăng lên khi các thương gia tin tưởng rằng các nhà máy chế tạo găng tay y tế địa phương sẽ được hưởng từ tranh chấp thương mại Mỹ, Trung. Giá cao su làm lốp xe SMR 20 đóng cửa tăng 4,5 sen lên 527,5 sen/kg, trong khi mủ latex tăng 6,5 sen lên 418,5 sen/kg. Cuộc chiến thương mại có thể sẽ có lợi cho các nhà máy chế tạo găng tay cao su nếu các nhà nhập khẩu sử dụng các sản phẩm địa phương thay thế các sản phẩm của Trung Quốc trên thị trường Mỹ. Thị trường Mỹ hiện tiêu thụ khoảng 30% găng tay y tế của thế giới.
Từ ngày 16/07/2018, Bộ Thương mại Trung Quốc thông báo sẽ áp dụng tạm thời các biện pháp chống bán phá giá đối với cao su nitrile từ Hàn Quốc và Nhật Bản. Mức thuế sẽ từ 12% đến 37,3% đối với hàng nhập khẩu cao su từ Hàn Quốc và mức thuế từ 18,1% đến 56,4% sẽ áp đối với sản phẩm từ Nhật Bản. Các nhà xuất khẩu Nhật Bản bị áp thuế là Zeon Corp và JSR Corp. Các nhà xuất khẩu Hàn Quốc là Kumho Petro và LG Chem.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

68,06

-2,9

-4,15%

Dầu Brent

USD/thùng

71,84

-3,49

-4,63%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

48.580,00

-1.270,00

-2,55%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,77

+0,01

+0,36%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

201,03

+0,81

+0,40%

Dầu đốt

US cent/gallon

206,53

+1,10

+0,54%

Dầu khí

USD/tấn

632,00

-1,50

-0,24%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

66.750,00

-1.300,00

-1,91%

Vàng New York

USD/ounce

1.239,70

0,00

0,00%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.472,00

-24,00

-0,53%

Bạc New York

USD/ounce

15,80

-0,02

-0,11%

Bạc TOCOM

JPY/g

57,20

-0,50

-0,87%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

826,49

+2,65

+0,32%

Palladium giao ngay

USD/ounce

923,64

+2,91

+0,32%

Đồng New York

US cent/lb

278,10

+1,65

+0,60%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.192,00

-45,00

-0,72%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.055,00

+24,00

+1,18%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.474,00

-104,00

-4,03%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.500,00

-295,00

-1,49%

Ngô

US cent/bushel

359,75

+4,50

+1,27%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

490,75

+2,25

+0,46%

Lúa mạch

US cent/bushel

237,00

0,00

0,00%

Gạo thô

USD/cwt

12,02

-0,03

-0,25%

Đậu tương

US cent/bushel

853,75

+8,00

+0,95%

Khô đậu tương

USD/tấn

330,20

+2,70

+0,82%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,18

+0,09

+0,32%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

487,40

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.406,00

-107,00

-4,26%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

110,30

+0,40

+0,36%

Đường thô

US cent/lb

11,14

+0,18

+1,64%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

170,65

+1,85

+1,10%

Bông

US cent/lb

87,79

+0,02

+0,02%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

519,60

-1,10

-0,21%

Cao su TOCOM

JPY/kg

175,00

+2,10

+1,21%

Ethanol CME

USD/gallon

1,41

+0,01

+0,36%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg