Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng trở lại bởi các nhà đầu tư tiếp tục theo dõi căng thẳng địa chính trị ở Trung Đông trong bối cảnh thị trường chứng khoán tăng điểm.
Chốt phiên giao dịch tại, giá dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao tháng 5/2018 tăng 0,30 USD lên 66,52 USD/thùng; dầu Brent giao tháng 6/2018 tăng 0,16 USD lên 71,58 USD/thùng.
Giá dầu Brent đã tăng 1,8% trong tháng này, đạt mức cao đỉnh điểm 73,09 USD/thùng trong tuần trước, mức cao nhất kể từ cuối năm 2014. Chỉ số giá S&P 500 và chỉ số công nghiệp Dow Jones cả hai đều tăng khoảng 1%.
Các nhà phân tích cho biết cho tới thời điểm này giới đầu tư vẫn đang theo dõi chặt chẽ căng thẳng địa chính trị ở Trung Đông và việc áp đặt trở lại các biện pháp trừng phạt đối với Iran sẽ có thể dẫn đến giá dầu tăng do Iran là nước sản xuất dầu lớn.
Theo nhận định của chuyên gia Stephen Innes thuộc công ty môi giới OANDA (Singapore), bất ổn địa chính trị trên toàn cầu tiếp tục hỗ trợ giá dầu, và xu hướng này sẽ duy trì ít nhất là cho tới ngày 12/5 tới - hạn chót mà Mỹ đặt ra để sửa đổi thỏa thuận hạt nhân giữa Iran và Nhóm P5+1 (gồm Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc và Mỹ cùng với Đức), nếu không Mỹ sẽ rút khỏi thỏa thuận
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng biến động thất thường trong bối cảnh đồng USD hồi phục từ mức thấp nhất 3 tuần. Giá vàng giao ngay đã tăng 0,06% lên 1.346,4 USD/ounce, trong khi giá vàng giao tháng 6/2018 giảm 0,1% (1,2 USD) xuống 1.349,5 USD/ounce.
Chỉ số đồng USD – được coi là thước đo "sức khỏe" của đồng bạc xanh so với các đồng tiền chủ chốt khác – phiên này tăng 0,11% lên 89,526. Phiên này, đồng bạc xanh đã phục hồi so với đồng euro, thậm chí có lúc chạm mức cao nhất trong ba tuần so với đồng tiền chung châu Âu. Giá vàng luôn nhạy cảm với những biến động của đồng USD, do một khi đồng bạc xanh mạnh lên sẽ khiến sức hấp dẫn của các tài sản an toàn như vàng giảm đáng kể.
Tuần trước, giá vàng đã tăng lên mức cao nhất 2 tháng rưỡi do những căng thẳng xung quanh vấn đề Syria, cũng như lo ngại về lệnh trừng phạt của Mỹ áp đặt lên Nga đã khiến thị trường chứng khoán suy giảm và gia tăng nhu cầu về “tài sản trú ẩn an toàn” như vàng. Cho tới nay, những căng thẳng ở Syria đã phần nào dịu bớt, song những quan ngại về lệnh trừng phạt Nga vẫn còn.
Nhà Trắng ngày 17/4 thông báo rằng Tổng thống Mỹ Donald Trump sẽ đề cử ông Richard Clarida, một nhà kinh tế học, cố vấn chiến lược toàn cầu tại Tập đoàn Pimco, và bà Michelle Bowman, một nhà điều hành ngân hàng Kansas, vào hai vị trí quan trọng tại Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Theo thông báo, nếu được Thượng viện phê chuẩn, ông Clarida sẽ làm Phó Chủ tịch Hội đồng thống đốc Fed và bà Bowman sẽ trở thành ủy viên. Vị trí Phó Chủ tịch Fed bị bỏ trống từ khi ông Stanley Fischer từ chức hồi giữa tháng 10/2017. Đây được xem là một trong những vị trí có ảnh hưởng nhất của Fed, cùng với vị trí chủ tịch và người đứng đầu của Fed ở khu vực New York.
Về những kim loại quý khác, giá bạc tăng 0,9% lên 16,75 USD/ounce. Giá bạch kim cũng tiến thêm 1,3% lên 935,7 USD/ounce sau khi đã có lúc chạm mức cao của sáu phiên là 936,9 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá quặng sắt kỳ hạn tại Trung Quốc giảm mạnh và chạm mức thấp nhất 10 tháng, do lo ngại dư thừa nguồn cung khi sản lượng thép trung bình ngày của nước này trong tháng 3/2018 tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 9/2017.
Theo Cơ quan thống kê quốc gia, sản lượng thép tại nước sản xuất thép lớn nhất thế giới trong tháng 3/2018 đạt 73,98 triệu tấn, tăng 4,5% so với cùng tháng năm ngoái. Giá quặng sắt kỳ hạn tại sàn Đại Liên đóng cửa giảm 1,6% xuống còn 439 NDT (69,93 USD)/tấn, trong phiên có lúc đạt 434 NDT/tấn – mức thấp nhất kể từ ngày 27/6. Giá thanh cốt thép giao kỳ hạn tháng 10 tại sàn Thượng Hải giảm 0,6% xuống còn 3.384 NDT/tấn.
"Sản lượng thép gia tăng cho thấy rằng việc hạn chế sản xuất có thể không mạnh so với dự kiến", Richard Lu, nhà phân tích tại công ty tư vấn CRU, Bắc Kinh cho biết. Giá nguyên liệu sản xuất thép tăng sau số liệu sản lượng chính thức được đưa ra.
Giá nhôm cao kỷ lục 6 năm rưỡi, với hợp đồng giao sau 3 tháng trên sàn London ở mức khoảng 2.435 USD/tấn. Thị trường tiếp tục lo ngại các biện pháp trừng phạt của Mỹ có thể làm gián đoạn nguồn cung từ nhà sản xuất nhôm lớn thứ hai thế giới – Rusal Nga.
Tuy nhiên, số liệu ngành công nghiệp tại nước tiêu thụ kim loại hàng đầu – Trung Quốc – suy yếu gây áp lực đối với giá hầu hết các kim loại khác. Sản lượng công nghiệp Trung Quốc trong tháng 3/2018 tăng 6%, tốc độ tăng chậm nhất trong 7 tháng, trong khi đầu tư tài sản cố định trong 3 tháng đầu năm 2018 dưới mức kỳ vọng. GDP quý I/2018 tăng 6,8%, tăng nhẹ so với dự kiến.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giảm 0,7 US cent tương đương 0,60% xuống 1,1585 USD/lb, có lúc giá giảm xuống 1,153 USD, thấp gần nhất kể từ tháng 3/2016. Robusta giao tháng 7 giá tăng 25 USD tương đương 1,45% lên 1.754 USD/tấn.
Đường cũng giảm, với đường thô giao kỳ hạn tháng 5 giảm 0,33 cent tương đương 2,8% xuống còn 11,65 cent/lb, mức thấp nhất trong hơn 2 năm rưỡi. Đường trắng giao tháng 8 giảm 4,8 USD/tấn, tương đương 1,41% xuống còn 335,8 USD/tấn, trong phiên có lúc chạm 335,5 USD/tấn – mức thấp nhất kể từ tháng 9/2015.
Sản lượng đường khu vực Trung Nam Brazil – khu vực đang bước vào vụ thu hoạch mía đường – dự báo sụt giảm có thể hỗ trợ giá. Tuy nhiên, sản lượng đường tại Ấn Độ và Thái Lan tăng mạnh mẽ, sản lượng đường Ấn Độ sẽ cao hơn so với dự kiến trước đó là yếu tố gây áp lực giá.
Giá cao su kỳ hạn trên sàn TOCOM hồi phục trở lại từ mức thấp nhất 1 tuần trong phiên trước đó, được hậu thuẫn bởi hoạt động mua vào kỹ thuật. Hợp đồng cao su giao tháng 9 trên sàn TOCOM tăng 1 JPY lên 180,2 JPY (1,69 USD)/kg. Tại Thượng Hải hợp đồng cao su giao tháng 9 giảm phiên thứ 2 liên tiếp, giảm 185 NDT xuống còn 11.090 NDT (1.766 USD)/tấn. Hợp đồng cao su giao tháng 5 trên sàn SICOM giảm 0,8 cent xuống còn 136,4 UScent/kg.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

66,52

+0,30

+0,47%

Dầu Brent

USD/thùng

71,58

+0,16

+0,28%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

44.340,00

+330,00

+0,75%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,75

+0,01

+0,29%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

205,11

+0,99

+0,49%

Dầu đốt

US cent/gallon

206,57

+0,86

+0,42%

Dầu khí

USD/tấn

630,50

+2,50

+0,40%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

60.840,00

+650,00

+1,08%

Vàng New York

USD/ounce

1.347,20

-2,30

-0,17%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.625,00

+4,00

+0,09%

Bạc New York

USD/ounce

16,76

-0,03

-0,19%

Bạc TOCOM

JPY/g

57,50

+0,20

+0,35%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

936,65

-0,37

-0,04%

Palladium giao ngay

USD/ounce

1.012,67

-1,53

-0,15%

Đồng New York

US cent/lb

308,80

+0,85

+0,28%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.877,00

-33,50

-0,48%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.405,00

+6,00

+0,25%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.154,00

+17,50

+0,56%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.475,00

+450,00

+2,14%

Ngô

US cent/bushel

389,50

+0,25

+0,06%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

482,00

+0,50

+0,10%

Lúa mạch

US cent/bushel

229,75

+1,00

+0,44%

Gạo thô

USD/cwt

13,11

-0,04

-0,34%

Đậu tương

US cent/bushel

1.057,75

+0,50

+0,05%

Khô đậu tương

USD/tấn

385,70

+0,30

+0,08%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,44

-0,01

-0,03%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

512,70

+1,40

+0,27%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.704,00

0,00

0,00%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

115,85

-0,70

-0,60%

Đường thô

US cent/lb

11,82

-0,35

-2,88%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

145,65

+2,15

+1,50%

Bông

US cent/lb

83,15

+0,20

+0,24%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

542,10

+6,30

+1,18%

Cao su TOCOM

JPY/kg

181,50

+1,30

+0,72%

Ethanol CME

USD/gallon

1,48

+0,00

+0,14%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg