Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng do lượng dự trữ dầu và xăng hàng tuần của Mỹ giảm đáng kể. Lượng dự trữ dầu thô của Mỹ đã giảm 2,5 triệu thùng và dự trữ xăng giảm 2,7 triệu thùng. Tuy nhiên, đà tăng của giá dầu bị hạn chế do Bộ Năng lượng Mỹ cho biết sản lượng dầu của nước này tăng 152.000 thùng/ngày.
Kết thúc phiên giao dịch, tại thị trường New York giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) kỳ hạn giao tháng 9/2016 tăng 21 cent lên 46,79 USD/thùng. Tại London, giá dầu Brent giao tháng 10/2016 tăng 62 cent lên 49,85 USD/thùng.
Đồn đoán các nước sản xuất chủ chốt có thể công khai một số biện pháp để đẩy nhanh quá trình tái cân bằng đã khiến một số thương nhân giảm tỷ lệ đặt cược giá dầu giảm, đẩy giá dầu Brent lên sát mốc 50 USD/thùng.
Thời gian gần đây giá dầu tăng trở lại sau khi xuống dưới mốc 40 USD/thùng nhờ tin tức về phiên họp không chính thức của OPEC để bàn về cách ổn định thị trường dầu. Lãnh đạo của cả Arab Saudi và Nga đều bày tỏ mối quan tâm trong việc bàn thảo lại thảo thuận đóng băng sản lượng.
Giá dầu đã liên tiếp tăng từ đầu tuần sau khi Saudi Arabia và Nga cho biết Moskva có thể tham gia một cuộc họp với Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) vào tháng Chín tới nhằm bình ổn thị trường dầu mỏ.
Tuy nhiên, một số nhà phân tích tỏ ra hoài nghi về thỏa thuận này, nhất là khi Iran đang cố gắng tăng sản lượng lên bằng mức trước khi các lệnh trừng phạt được áp đặt.
Ngày 16/8, tin tức từ Iran cho thấy sản lượng dầu thô của nước này có thể chưa đạt bằng mức trước khi các lệnh trừng phạt được áp đặt - từ 4 đến 4,2 triệu thùng/ngày - vào thời điểm phiên họp không chính thức diễn ra, dự kiến vào 26-28/9, đồng thời Iran cũng chưa quyết định có tham gia phiên họp hay không.
Các nước như Libya và Nigeria - sản lượng và xuất khẩu dầu thô bị ảnh hưởng do xung đột và các cuộc tấn công quân sự trong những tháng qua - có thể hoặc yêu cầu khả năng trì hoãn đặc biệt hoặc quyền được đóng băng sản lượng ở mức sản lượng tối đa tiềm năng.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng nhẹ khi biên bản họp Fed cho thấy các nhà hoạch định chính sách cho rằng lãi suất sớm được tăng nhưng vẫn chờ thêm số liệu.
Giá vàng giao ngay tăng 0,02% lên 1.345,96 USD/ounce, giá vàng giao tháng 12 giảm 0,6% xuống 1.337,22 USD/ounce.
Biên bản họp chính sách tháng 7 của Fed cho thấy, nói chung Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) đều lạc quan về kinh tế và thị trường lao động Mỹ, nhưng nhiều nhà hoạch định chính sách cho rằng bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy sự sụt giảm về số việc làm trong tương lai sẽ ảnh hưởng xấu đến việc nâng lãi suất trong ngắn hạn.
Trong khi đó, giá vàng giao tháng 12/2016 trên sàn Comex lại giảm 0,6% xuống 1.348,80 USD/ounce trước khi biên bản họp Fed được công bố.
Biên bản họp Fed được công bố sau khi 2 nhà hoạch định chính sách Ngân hàng trung ương Mỹ hôm 16/8 cho rằng kinh tế Mỹ tiếp tục tăng trưởng sau khi suy yếu trong nửa đầu năm 2016.
USD giảm so với các đồng tiền chủ chốt trong giỏ tiền tệ sau khi chuyển động theo cả 2 hướng sau biên bản họp Fed. Chứng khoán Mỹ tăng điểm.
Trong số các kim lại quý khác, giá bạc giao ngay giảm 0,2% xuống 19,73 USD/ounce, giá palladium giảm 0,8% xuống 694,50 USD/ounce trong khi giá bạch kim tăng 0,5% lên 1.117,90 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, cà phê đồng loạt giảm giá. Tại London, Robusta các kỳ hạn tiếp tục giảm 22-26 USD/tấn, ghi nhận phiên giảm thứ 7 liên tiếp. Tại New York, Arabica giảm 2,35-2,65 cent/lb.
Đồng nội tệ real Brazil giảm giá gây áp lực lên giá cà phê Arabica. Real yếu hơn giúp hoạt động sản xuất và doanh số bán có lợi hơn nếu tính theo đồng nội tệ trong bối cảnh Brazil là nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới.
Hợp tác xã cà phê lớn nhất Brazil Cooxupe cho biết, tính đến 12/8, nông dân nước này đã thu hoạch được khoảng 82% diện tích cà phê, và thu hoạch vụ mới có khả năng kết thúc vào cuối tháng này.

Giá hàng hóa thế giới

 

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

46,79

+0,21

+0,5%

Dầu Brent

USD/thùng

49,93

+0,62

+1,3%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

29,620,00

+40,00

+0,14%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,62

0,00

0,00%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

145,31

+0,26

+0,18%

Dầu đốt

US cent/gallon

148,96

+0,04

+0,03%

Dầu khí

USD/tấn

436,00

+6,00

+1,40%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

42,340,00

-10,00

-0,02%

Vàng New York

USD/ounce

1,360,10

+11,30

+0,84%

Vàng TOCOM

JPY/g

4,330,00

-18,00

-0,41%

Bạc New York

USD/ounce

19,78

+0,13

+0,65%

Bạc TOCOM

JPY/g

63,10

-0,90

-1,41%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1,126,95

+8,60

+0,77%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

698,74

+4,25

+0,61%

Đồng New York

US cent/lb

217,00

+0,65

+0,30%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

4,774,00

-37,00

-0,77%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1,694,00

+1,00

+0,06%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2,273,00

+16,00

+0,71%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

18,350,00

-50,00

-0,27%

Ngô

US cent/bushel

339,75

0,00

0,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

442,75

-0,25

-0,06%

Lúa mạch

US cent/bushel

185,75

0,00

0,00%

Gạo thô

USD/cwt

10,22

0,00

-0,05%

Đậu tương

US cent/bushel

1,016,75

+0,75

+0,07%

Khô đậu tương

USD/tấn

332,10

-0,30

-0,09%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,53

+0,09

+0,26%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

468,90

+3,30

+0,71%

Cacao Mỹ

USD/tấn

3,079,00

+20,00

+0,65%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

138,10

-2,65

-1,88%

Đường thô

US cent/lb

19,72

-0,54

-2,67%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

175,55

-3,05

-1,71%

Bông

US cent/lb

68,81

+0,21

+0,31%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

323,00

-0,30

-0,09%

Cao su TOCOM

JPY/kg

155,60

-2,80

-1,77%

Ethanol CME

USD/gallon

1,43

-0,01

-0,76%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg