Trên thị trường năng lượng, quan ngại về tình trạng dư cung và nhu cầu suy yếu khiến hoạt động bán tháo dầu thô diễn ra mạnh mẽ. Kết thúc phiên vừa qua tại thị trường New York, giá dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) kỳ hạn giao sau giảm 3,64 USD (7,3 %) xuống 46,24 USD/thùng, mức thấp nhất kể từ tháng 8/2017. Thậm chí sau khi chốt phiên, giá mặt hàng này vẫn tiếp tục giảm xuống 45,91 USD/thùng, tính chung cả ngày mất khoảng 8%. Trong khi tại thị trường London, giá dầu Brent Biển Bắc lùi 3,35 USD (5,62%) xuống 56,26 USD/thùn; trong phiên, giá dầu Brent có lúc rơi xuống 56,16 USD/thùng, mức thấp nhất 14 tháng qua.
Phiên vừa qua có tới hơn 900.000 hợp đồng đã sang tay chủ mới, vượt xa mức trung bình 200 ngày là 591.000 hợp đồng.
Kể từ tháng 10 tới nay giá dầu đã mất hơn 10%.
Viện Dầu khí quốc gia Mỹ (API) cho biết lượng dầu dự trữ của nước này bất ngờ tăng thêm 3,5 triệu thùng trong tuần trước (kết thúc ngày 14/12/2018), lên 441,3 triệu thùng/ngày, trái với dự báo giảm 2,4 triệu thùng của giới phân tích, ghi dấu tuần tăng đầu tiên trong ba tuần qua.
Trong khi đó, lòng tin của giới đầu tư bị sa sút dần khi ngày càng nhiều các nhà quản lý quỹ đầu tư nhận định rằng kinh tế toàn cầu sẽ suy yếu trong 12 tháng tới, triển vọng ảm đạm nhất trong một thập kỷ qua.
Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng góp phần tăng thêm áp lực giảm giá dầu thô phiên vừa qua, đó là mỏ dầu lớn nhất của nước Anh với công suất khoảng 150.000 thùng/ngày đã nối lại hoạt động sản xuất, khiến nguồn cung dầu trên toàn cầu càng đầy lên; chính quyền Mỹ cho biết sản lượng dầu đá phiến của nước này sẽ chạm ngưỡng 8 triệu thùng/ngày trong năm nay và dự trữ dầu thô của Mỹ sẽ tăng tiếp trong tuần này; và chứng khoán Mỹ tăng điểm trong phiên vừa qua vì nhà đầu tư tập trung vào động thái mới của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) với dự đoán sẽ nâng lãi suất sau phiên họp ngày 19/12/20108. Giới đầu tư ngày càng lo ngại nguồn cung dầu toàn cầu sẽ lại dư thừa nhiều, bất chấp thỏa thuận cắt giảm sản lượng mà Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC)và các nước bên ngoài tổ chức này vừa đạt được hồi đầu tháng.
Giá than cũng giảm trong phiên vừa qua. Than luyện cốc trên sàn Đại Liên (Trung Quốc) giảm 2,5% trong phiên vừa qua, xuống 1.216 CNY/tấn, trong khi than cốc giảm 2,2% xuống 1.984 CNY/tấn. Lý do bởi than là nguyên liệu trong sản xuất thép, mà giá thép vừa giảm mạnh bởi lo ngại triển vọng nhu cầu của Trung Quốc yếu đi.
Tuy nhiên, trong trung hạn, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) nhận định nhu cầu than toàn cầu sẽ vẫn tiếp tục tăng trung bình 0,2% mỗi năm từ nay tới 2023 nhờ nhu cầu mạnh ở Ấn Độ và nhiều nước châu Á khác.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng duy trì ở mức cao nhất trong một tuần giữa bối cảnh giới đầu tư hoài nghi về tiến trình nâng lãi suất tại Mỹ vào năm tới.
Kết thúc phiên, giá vàng giao ngay tăng 0,25% lên 1.248,93 USD/ounce, sau khi có lúc trong phiên vọt lên 1.250,27 USD/ounce - mức cao nhất kể từ ngày 10/12; vàng giao sau không thay đổi nhiều và được giao dịch ở mức 1.253,60 USD/ounce.
Đối với những kim loại quý khác, giá bạc giảm 0,27% xuống 14,62 USD/ounce, còn giá bạch kim giảm 0,1% xuống 792,70 USD/ounce.
Lúc đầu phiên, đồng USD đã rơi xuống mức thấp nhất trong hơn một tuần so với giỏ các đồng tiền chủ chốt, sau khi giới đầu tư không đặt cược vào đồng tiền này trong dài hạn vì kỳ vọng tiến độ nâng lãi suất tại Mỹ sẽ chậm lại.
Dự kiến tại cuộc họp kéo dài hai ngày 18-19/12/2018, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ nâng lãi suất lần thứ tư trong năm nay. Tuy nhiên, sự suy yếu của thị trường chứng khoán và đà tăng trưởng kinh tế giảm tốc có thể thúc đẩy Fed làm chậm lại tiến trình thắt chặt chính sách tiền tệ. Các nhà phân tích của Standard Chartered dự báo giá vàng sẽ ở mức trung bình 1.300 USD/ounce vào năm tới.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng loạt giảm. Kim loại đồng giảm xuống mức thấp nhất 3 tháng do lo ngại tăng trưởng kinh tế thế giới chậm lại sẽ làm giảm nhu cầu đồng, đúng lúc có tin hãng luyện đồng lớn của Ấn Độ có thể sắp sản xuất trở lại, bất chấp lượng đồng lưu kho trên sàn London đang ở gần mức thấp nhất kể từ 2008 (122.000 tấn).
Đồng giao sau 3 tháng trên sàn Londonn giảm 2,5% xuống 5.970 USD/tấn vào cuối phiên, sau khi có lúc chỉ 5.955 USD/tấn, thấp nhất kể từ 18/9/2018. Kim loại đỏ này đã mất khoảng 18% giá trị từ đầu năm đến nay. Lý do vì tăng trưởng của Trung Quốc yếu đi và cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung.
Trong số các kim loại khác, nhôm cũng giảm 0,9% xuống 1.925 USD/tấn, kẽm giảm 0,8% xuống 2.520 USD/tấn, nickel giảm 1,4% xuống 10.835 USD/tấn và thiếc giảm 0,7% xuống 19.210 USD/tấn. Chỉ riêng chì tăng 2,2% lên 1.973 USD/tấn.
Giá sắt thép trên thị trường Trung Quốc đều giảm trong phiên vừa qua do chứng khoán mất điểm trong bối cảnh nhà đầu tư vẫn thận trọng trước thềm cuộc gặp gỡ giữa lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc. Triển vọng nhu cầu yếu cũng ảnh hưởng tới thị trường sắt thép.
Thép cây trên sàn Thượng Hải giảm 0,1% xuống 3.435 CNY (498,16 USD)/tấn. Quặng sắt giao tháng 5/2019 trên sàn Đại Liên giảm 0,4% xuống 486 CNY/tấn.
Cơ quan tư vấn của Chính phủ Trung Quốc nhận định tiêu thụ thép của nước này năm 2019 sẽ giảm xuống 800 triệu tấn, từ mức 820 triệu tấn của năm 2018, do nhu cầu của các lĩnh vực bất động sản, ô tô và năng lượng có khả năng chậm lại. Fitch Solutions Macro Research cũng dự đoán tăng trưởng tiêu thụ thép thế giới năm 2019 sẽ chỉ đạt 2,2%, sau khi đạt 4,2% trong năm 2018 và 5,1% năm 2017, do nhu cầu trong lĩnh vực xây dựng ở trung Quốc chậm lại.
Trên thị trường nông sản, giá 2 loại cà phê biến động trái chiều. Trong phiên có lúc giá cà phê arabica giảm xuống mức thấp nhất 3 tháng, 99,20 US cent/lb, và kết thúc phiên ở 99,40 US cent, tức là giảm 0,7 US cent tương đương 0,7% so với mức giá đóng cửa của phiên trước. Lo ngại dư cung trên toàn cầu gia tăng sau khi Brazil đưa ra thông báo sản lượng của nước này đạt kỷ lục 61,65 triệu bao trong năm 2018. Trái với arabica, robusta tiếp tục tăng thêm 9 USD tương đương 0,6% trong phiên vưa qua, lên1.487 USD/tấn.
Giá đường giảm mạnh, trong đó đường thô xuống thấp nhất kể từ đầu tháng 10/2018 trong phiên vừa qua, do chịu ảnh hưởng từ thị trường dầu mỏ.
Đường thô giao sau 3 tháng giảm 0,19 US cent tương đương 1,5% xuống 12,30 US cent/lb vào cuối phiên, trước đó có lúc chỉ 12,26 US cent. Đường trắng cũng giảm 3,7 USD tương đương 1,1% xuống 336 USD/tấn. Khi giá dầu giảm, ngành chế biến cây mía sẽ giảm tỷ lệ sản xuất ethanol và tăng sản xuất đường, sẽ khiến nguồn cung đường gia tăng.
Giá cao su tại Tokyo giảm trong phiên vừa qua sau khi đạt kỷ lục cao nhất 2 tháng ở phiên liền trước bởi lo ngại tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ không như mong đợi; kinh tế Mỹ bắt đầu có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại, trong khi những nơi khác như châu Âu và Trung Quốc cũng thể hiện đã mất đà.
Cao su giao tháng 5/2019 tại Tokyo giảm 0,3 JPY xuống 171,3 JPY (1,52 USD)/kg. Cao su loại công nghệ đặc biệt (STR20) cũng giảm 0,3% xuống 147 JPY/kg. Tuy nhiên, tại Thượng Hải, cao su vẫn tăng giá, với hợp đồng giao tháng 5 năm sau tăng 90 CNY lên 11.125 CNY (1.656 USD)/tấn.
Giá cá rô phi nguyên liệu tại Trung Quốc đang giảm mạnh. Vietnambiz dẫn thông tin từ Underciverse news cho biết giá cá rô phi tại Trung Quốc đã giảm gần 11% trong gần 1 tháng rưỡi qua, bởi phần lớn nhà chế biến và cung ứng cá rô phi đã hoàn thành các đơn hàng xuất khẩu sang Mỹ để tránh bị tăng thuế. Tại Quảng Đông, cá cỡ 500 – 800gr/con giảm từ 9,4 CNY/kg cuối tháng 10/2018 xuống còn 8,4 CNY/kg vào ngày 9/12/2018, trong khi đó Tại Hải Nam, cá cỡ 200 - 250gr/con hiện chỉ 8,0 CNY/kg. Mặc dù Mỹ đã hoãn nâng thuế quan, nhưng giá cá rô phi khó có khả năng tăng do hầu hết nhà nhập khẩu đã trữ đủ hàng.
Giá sữa thế giới tăng trong phiên đấu giá thứ 2 liên tiếp (lần đầu tiên trong vòng 6 tháng có 2 phiên liên tiếp tăng). Chỉ số giá chung tăng 1,7% lên 2.844 USD/tấn (phiên trước chỉ số này đã tăng 2,2%), trong đó chỉ số giá bơ tăng 4,9% còn sữa bột gầy tăng 3,4%. Giá sữa bột nguyên kem chỉ tăng 0,3%, trái với dự đoán là sẽ tăng 3%. Lý do một phần bởi đồng đô la New Zealand tăng gần 0,7% lên 0,6879 NZD/USD.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

46,24

-3,64

-7,30%

Dầu Brent

USD/thùng

56,12

-3,49

-5,85%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

38.120,00

-1.790,00

-4,49%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,84

+0,31

+8,79%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

135,05

-5,99

-4,25%

Dầu đốt

US cent/gallon

175,39

-7,28

-3,99%

Dầu khí

USD/tấn

523,75

-26,50

-4,82%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

53.710,00

-1.880,00

-3,38%

Vàng New York

USD/ounce

1.253,60

+1,80

+0,14%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.506,00

+4,00

+0,09%

Bạc New York

USD/ounce

14,70

-0,06

-0,39%

Bạc TOCOM

JPY/g

53,20

0,00

0,00%

Bạch kim

USD/ounce

793,05

+2,20

+0,28%

Palađi

USD/ounce

1.252,56

+1,31

+0,10%

Đồng New York

US cent/lb

266,45

-9,00

-3,27%

Đồng LME

USD/tấn

6.123,00

-8,50

-0,14%

Nhôm LME

USD/tấn

1.942,00

+16,00

+0,83%

Kẽm LME

USD/tấn

2.539,00

-4,00

-0,16%

Thiếc LME

USD/tấn

19.350,00

+20,00

+0,10%

Ngô

US cent/bushel

385,50

+1,50

+0,39%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

532,75

-2,50

-0,47%

Lúa mạch

US cent/bushel

287,00

-1,00

-0,35%

Gạo thô

USD/cwt

10,66

-0,04

-0,33%

Đậu tương

US cent/bushel

920,75

+2,75

+0,30%

Khô đậu tương

USD/tấn

314,70

+1,30

+0,41%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,67

+0,22

+0,77%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

488,40

+2,90

+0,60%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.271,00

+41,00

+1,84%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

99,40

-0,70

-0,70%

Đường thô

US cent/lb

12,30

-0,19

-1,52%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

135,70

-2,30

-1,67%

Bông

US cent/lb

77,85

-0,69

-0,88%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

325,30

+4,60

+1,43%

Cao su TOCOM

JPY/kg

171,30

0,00

0,00%

Ethanol CME

USD/gallon

1,26

+0,00

+0,08%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters, CafeF