Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm xuống mức thấp nhất 2 tháng do có nhiều dấu hiệu cho thấy thừa cung nhiên liệu và nhu cầu suy yếu có thể đặt dấu chấm hết cho đợt tăng vừa qua.
Đóng cửa phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) kỳ hạn giao tháng 8/2016 trên sàn New York giảm 71 UScent, tương ứng 1,5%, xuống 45,24 USD/thùng. Giá dầu Brent giao tháng 9/2016 trên sàn London giảm 65 cent, tương đương 1,4%, xuống 46,96 USD/thùng.
Cả giá dầu Brent và WTI liên tục giảm kể từ khi đạt đỉnh trong năm nay ở mức trên 50 USD/thùng hồi đầu tháng 6. Từ đầu tháng 7 đến nay, giá dầu đã giảm 11%.
Lượng sản phẩm lọc dầu lưu kho cũng liên tục gây áp lực lên giá dầu. Thị trường sản phẩm lọc dầu, nhất là xăng, trong tình trạng thừa cung, đồng nghĩa rằng các nhà máy lọc dầu sẽ giảm lượng mua vào dầu thô, đặc biệt thời điểm bảo dưỡng định kỳ mùa thu chỉ còn 2 tháng nữa.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng hầu hết cũng giảm khi chứng khoán tăng điểm do lo ngại của nhà đầu tư lắng dịu sau nỗ lực đảo chính không thành tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Giá vàng giao ngay giảm 0,7% xuống 1.327,15 USD/ounce. Tuy nhiên, giá vàng giao tháng 8/2016 tăng nhẹ 0,1% lên 1.329,3 USD/ounce, chấm dứt mạch giảm 2 phiên liên tiếp.
Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục trấn áp những kẻ ủng hộ cuộc đảo chính quân sự bất thành và chính phủ nước này tuyên bố đã kiểm soát được đất nước cũng như nền kinh tế.
USD tăng 0,1% so với cá đồng tiền chủ chốt trong giỏ tiền tệ trong khi lĩnh vực công nghệ và cam kết kích thích kinh tế của ngân hàng trung ương đã hỗ trợ thị trường chứng khoán.
Trong số các kim loại quý khác, giá bạc giao ngay giảm 1,8% xuống 19,83 USD/ounce, giá bạch kim giảm 0,6% xuống 1.080,2 USD/ounce và giá palladium giảm 2,3% xuống 630,73 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê biến động trái chiều. Tại London, Robusta giảm 5 USD/tấn, trong khi đó tại New York Arabica tăng 1,9-2,05 cent/lb.
Hiệp hội Cà phê nhân của Mỹ (Green Coffee Association of USA) cho biết, lượng cà phê lưu kho tại các cảng của nước này trong tháng 6/2016 đạt 6.210.612 bao, tăng 126.424 bao, hay 2,08%. Con số này chưa tính đến lượng cà phê quá cảnh và lưu kho tại các nhà rang xay, khoảng 1,1 triệu bao.

Giá hàng hóa thế giới

 

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

45,24

-0,71

-1,5%

Dầu Brent

USD/thùng

46,96

-0,65

-1,4%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

29.800,00

-180,00

-0,60%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,74

+0,02

+0,55%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

139,06

+0,34

+0,25%

Dầu đốt

US cent/gallon

137,80

+0,02

+0,01%

Dầu khí

USD/tấn

404,25

+2,50

+0,62%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

41.980,00

-180,00

-0,43%

Vàng New York

USD/ounce

1.329,40

-0,10

-0,01%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.489,00

-10,00

-0,22%

Bạc New York

USD/ounce

20,04

-0,03

-0,17%

Bạc TOCOM

JPY/g

67,50

-0,80

-1,17%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.089,91

-6,69

-0,61%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

643,90

-1,25

-0,19%

Đồng New York

US cent/lb

223,90

+0,20

+0,09%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

4.939,00

+21,00

+0,43%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.659,00

-10,00

-0,60%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.218,00

+14,00

+0,64%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

17.925,00

-215,00

-1,19%

Ngô

US cent/bushel

360,50

-2,75

-0,76%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

427,00

-2,50

-0,58%

Lúa mạch

US cent/bushel

205,00

+0,25

+0,12%

Gạo thô

USD/cwt

10,78

+0,02

+0,19%

Đậu tương

US cent/bushel

1.058,25

-8,00

-0,75%

Khô đậu tương

USD/tấn

368,00

-2,70

-0,73%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,30

-0,17

-0,54%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

469,70

-1,00

-0,21%

Cacao Mỹ

USD/tấn

3.085,00

+20,00

+0,65%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

149,45

+1,90

+1,29%

Đường thô

US cent/lb

19,37

+0,06

+0,31%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

184,45

+0,60

+0,33%

Bông

US cent/lb

74,15

+0,20

+0,27%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

328,30

-7,90

-2,35%

Cao su TOCOM

JPY/kg

159,00

-0,20

-0,13%

Ethanol CME

USD/gallon

1,57

+0,01

+0,71%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg