Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng sau khi số liệu chính thức cho thấy dự trữ xăng dầu của Mỹ giảm mạnh hơn so với dự báo. Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao tháng 8/2018 tăng 0,68 USD lên 68,76 USD/thùng; dầu Brent giao tháng 9/2018 cũng tăng 0,74 USD lên 72,90 USD/thùng.
Trong báo cáo hàng tuần công bố ngày 18/7/2018, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết dự trữ xăng của nước này đã giảm 3,2 triệu thùng vào tuần trước, trong khi dự trữ sản phẩm chưng cất, bao gồm dầu diesel và dầu sưởi ấm, giảm 371.000 thùng, cao hơn kỳ vọng của thị trường. Tuy nhiên, dự trữ dầu thô tăng 5,8 triệu thùng trong tuần trước do sản lượng dầu lần đầu tiên đạt 11 triệu thùng/ngày; nhập khẩu dầu thô Mỹ tăng thêm 2,2 triệu thùng/ngày trong tuần trước.
Trong khi đó, sự gián đoạn nguồn cung ở Venezuela cũng hỗ trợ thị trường dầu mỏ khi hai trong số bốn cơ sở dầu thô của nước này dự kiến sẽ được bảo trì trong vài tuần tới. Các cơ sở này có khả năng xử lý 700.000 thùng dầu mỗi ngày.
Giá dầu tăng cao trong phiên giao dịch ngày 18/07/2018 sau khi dữ liệu của chính phủ Mỹ cho thấy nhu cầu xăng và chưng cất tăng vọt, bất chấp dự trữ dầu thô của Mỹ tăng và sản lượng dầu thô của Mỹ đạt mức cao 11 triệu thùng/ngày.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng ít biến động trong bối cảnh đồng USD rời khỏi mức cao nhất 3 tuần. Trước đó, đồng bạc xanh lên giá so với rổ tiền tệ chính sau bình luận lạc quan của Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell về triển vọng nền kinh tế Mỹ.
Vàng giao ngay vững ở 1.227,26 USD/ounce, trong khi vàng giao tháng 8/2018 tăng nhẹ 60 US cent (hay 0,1%) lên 1.227,90 USD/ounce. Kim loại quý này đã mất hơn 10% giá trị sau khi đạt mức cao nhất là 1.365,23 USD/ounce hồi giữa tháng 4/2018 do đồng USD mạnh lên và lãi suất Mỹ ngày càng tăng.
Hiện nhu cầu vàng của nước tiêu thụ vàng hàng đầu Trung Quốc đã yếu do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh thương mại đang diễn ra với Mỹ đồng thời làm suy yếu đồng Nhân dân tệ. Nhiều chuyên gia nhận định, nếu kinh tế Trung Quốc chậm lại sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu thụ hàng hóa toàn cầu và điều đó sẽ kéo vàng xuống.
Cuộc chiến thương mại dường như chỉ mang lại lợi nhuận nhiều nhất cho đồng USD. Số liệu kinh tế vĩ mô vừa qua của Trung Quốc cho thấy GDP quý 2/2018 giảm khiến đồng NDT giảm mạnh và góp phần giúp đồng USD duy trì độ cao. Điều này cũng gây ảnh hưởng tiêu cực tới giá vàng. Chính quyền tổng thống Mỹ Donald Trump cho rằng, trong bối cảnh thâm hụt thương mại giữa Mỹ và các quốc gia này rất lớn thì việc Washington áp thuế là công bằng, song những biện pháp đáp trả là không chấp nhận được.
Có tin Nga có thể sẽ tăng cường mua vào vàng để đối phó với các biện pháp trừng phạt mà Mỹ đang áp đặt đối với nước này trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, các chuyên gia phân tích cho hay nhân tố này không hỗ trợ nhiều cho giá vàng.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay giảm 0,1% xuống 15,56 USD/ounce, sau khi chạm mức 15,38 USD/ounce,mức thấp nhất kể từ ngày 10/7/2017. Giá bạch kim giao ngay để mất 0,2% xuống 814,20 USD/ounce. Trước đó, kim loại quý này đã chạm mức “đáy” của hai tuần là 798,14 USD/ounce. Giá palađi hạ 0,5% xuống 906,47 USD/ounce sau khi chạm mức 902,97 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ ngay 9/4.
Trên thị trường kim loạicông nghiệp, giá kẽm phục hồi khỏi mức thấp nhất 1 tuần qua do dự trữ giảm và nhu cầu mua của người tiêu dùng, trong khi giá đồng và chì chạm mức thấp nhất trong một năm khi USD tăng và tình hình tranh chấp thương mại ngày càng căng thẳng. Giá kẽm kỳ hạn ba tháng tại LME chốt phiên tăng 3,5% đạt mức 2.027 USD/tấn, mức tăng lớn nhất trong một ngày kể từ tháng 8/2017. Giá kim loại này đã giảm khoảng 8% trong tháng này, đã đạt mức thấp nhất trong một năm.
Dự trữ kẽm kỳ hạn tại Sở giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giảm 16.919 tấn xuống còn 58.016 tấn trong tuần vừa qua, mức thấp nhất kể từ tháng 2/2008, trong khi dự trữ kẽm của LME đã giảm trong 6 ngày liên tiếp. Kỳ vọng nguồn cung kẽm tăng trong những năm tới đã khiến kim loại này xuống mức thấp nhất trong một năm, nhưng những hạn chế về khả năng nấu chảy cho thấy việc bán tháo là quá sớm.
Trong số những kim loại khác, giá đồng chốt phiên ở mức 6.150 USD/tấn, gần chạm mức thấp nhất trong năm là 6,080 USD/tấn, trong khi giá chì đóng cửa tăng 0,2% đạt mức 2.170 USD/tấn, gần chạm mức thấp nhất trong một năm là 2.131 USD/tấn. Giá nhôm đóng cửa giảm 0,3% còn 2.027 USD/tấn. Giá tin đóng cửa giảm 0,1% còn 19,475 USD/tấn trong khi giá nickel tăng 0,9% ở mức 13.615 USD/tấn, quanh mức thấp nhất kể từ tháng 4/2018.
Giá thép thanh vằn xây dựng tại Thượng Hải tăng cao trong ngày 18/7/2018 sau hai ngày giảm, do các biện pháp kiểm soát ô nhiễm tại Đường Sơn, thành phố sản xuất thép hàng đầu của Trung Quốc đã làm tăng lo ngại về nguồn cung. Giá thép cây trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải chốt phiên tăng 0,4% lên 3.940 NDT (587,26 USD)/tấn. Giá quặng sắt trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên đóng cửa tăng 0,3% lên 465,5 NDT/tấn sau khi leo lên mức 469 NDT/tấn, mức cao nhất kể từ ngày 2/7/2018.
Đường Sơn đã tăng cường các biện pháp kiểm soát ô nhiễm khẩn cấp cho đến ngày 21/7 do có cảnh báo có thể xảy ra khói lớn. Nhà phân tích Cao Ying thuộc SDIC Essence Futures dự kiến dự trữ thép sẽ thấp hơn do sản lượng giảm và sẽ đẩy giá thép tăng cao.
Trên thị trường nông sản, đồng real Brazil yếu đi so với USD góp phần làm giảm giá đường và cà phê, hai mặt hàng mà Brazil giữ vai trò nước sản xuất và xuatá khẩu chủ chốt. Giá đường thô giao tháng 10/2018 giảm 0,05 US cent tương đương 0,5% xuống 11,08 US cent/lb; đường trắng giao tháng 10/2018 giảm 4,2 USD tương đương 1,3% xuống 322,10 USD/tấn. Theo công ty tư vấn Safras & Mercado, sản lượng đường tại khu vực trồng mía chính của Brazil năm 2018/19 dự báo giảm xuống 28 triệu tấn, thấp hơn 3 triệu tấn so với dự báo trước. Tuy nhiên, Ấn Độ có thể lấp đầy khoảng trống mà Brazil bỏ lại. Việc Chính phủ Ấn Độ nâng gía mía thu mua trong vụ tới có thể làm tăng xuất khẩu từ thị trường này.
Cà phê arabica giao tháng 9/2018 giảm 1,1 US cent tương đương 1% trong phiên vừa qua, xuống 1,0815 USD/lb, trong khi robusta giao cùng kỳ hạn giảm 3 USD tương đương 0,2% xuống 1.651 USD/tấn.
Giá ngũ cốc và đậu tương chạm mức giá cao nhất trong một tuần do các thị trường nông nghiệp ổn định sau những đợt giảm giá gần đây. Giá đậu tương kỳ hạn tháng 11 giao dịch ở mức 8.63-1 / 2 USD/bushel tại Chicago, mức giá cao nhất kể từ ngày 11/7. Giá hợp đồng này chốt phiên tăng 0,3% đạt 8,57-3/4 USD/bushel.
Hy vọng tăng nhu cầu xuất khẩu hàng hóa của Mỹ đã giúp hỗ trợ giá đậu tương sau khi thị trường giảm xuống mức thấp nhất trong 10 năm vào thứ Hai do lo ngại về tranh chấp thương mại Mỹ-Trung Quốc.
Người mua Trung Quốc đã chuyển sang mua đậu tương của Brazil thay vì Mỹ để tránh thuế nhập khẩu đậu tương Mỹ 25% mà Bắc Kinh ban hành vào ngày 6/7/2018. Sự thay đổi này đã gây áp lực lên giá đậu tương của Mỹ và đẩy giá đậu tương của Brazil lên. Tuy nhiên, giá đậu tương của Mỹ hiện đang cạnh tranh hơn với đậu tương Brazil do vậy đã thu hút được các khách mua khác.
Thuế quan trả đũa của Trung Quốc đối với đậu tương Mỹ đã kích thích các nước nhập khẩu khác mua đậu tương giá rẻ của Mỹ. Bộ Nông nghiệp Mỹ cho biết các nhà xuất khẩu đã ký thỏa thuận bán 199.500 tấn đậu tương của Mỹ cho Pakistan, giao hàng trong năm 2018-19.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

68,76

+0,68

+0,81%

Dầu Brent

USD/thùng

72,90

+0,74

+1,03%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

49.240,00

+670,00

+1,38%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,73

+0,01

+0,33%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

204,61

+0,17

+0,08%

Dầu đốt

US cent/gallon

209,11

+0,08

+0,04%

Dầu khí

USD/tấn

631,00

-1,25

-0,20%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

67.220,00

+440,00

+0,66%

Vàng New York

USD/ounce

1.226,40

-1,50

-0,12%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.447,00

+5,00

+0,11%

Bạc New York

USD/ounce

15,56

-0,01

-0,09%

Bạc TOCOM

JPY/g

56,40

-0,30

-0,53%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

818,48

0,00

0,00%

Palladium giao ngay

USD/ounce

909,55

+0,69

+0,08%

Đồng New York

US cent/lb

276,40

+0,40

+0,14%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.150,00

-2,00

-0,03%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.027,00

-5,00

-0,25%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.600,00

+88,00

+3,50%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.475,00

-40,00

-0,20%

Ngô

US cent/bushel

361,00

+1,25

+0,35%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

494,50

-3,25

-0,65%

Lúa mạch

US cent/bushel

240,25

+3,75

+1,59%

Gạo thô

USD/cwt

11,83

-0,18

-1,54%

Đậu tương

US cent/bushel

857,75

+2,50

+0,29%

Khô đậu tương

USD/tấn

325,60

-1,60

-0,49%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,47

+0,34

+1,21%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

491,90

+3,60

+0,74%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.337,00

-58,00

-2,42%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

108,15

-1,10

-1,01%

Đường thô

US cent/lb

11,08

-0,05

-0,45%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

169,60

-1,70

-0,99%

Bông

US cent/lb

88,08

-0,26

-0,29%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

499,90

-15,00

-2,91%

Cao su TOCOM

JPY/kg

174,50

+0,10

+0,06%

Ethanol CME

USD/gallon

1,41

0,00

-0,07%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg