Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô hồi phục sau đợt bán tháo mạnh ở phiên trước. Số liệu của Mỹ cho thấy nhu cầu khá mạnh đối với các chế phẩm dầu mỏ đã hỗ trợ giá trong phiên vừa qua.
Kết thúc phiên, dầu Brent Biển Bắc tăng 0,98 USD (hay 1,74%) lên 57,24 USD/thùng; dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 0,96 USD (2,08%) và đóng phiên ở mức 47,20 USD/thùng.
Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ (EIA) cho biết lượng dầu thô dự trữ của nước này đã giảm 497.000 thùng trong tuần kết thúc vào ngày 14/12/2018, ít hơn mức dự đoán giảm 2,4 triệu thùng giới phân tích đưa ra trước đó, trong khi lượng dự trữ các sản phẩm chưng cất, bao gồm dầu diesel và dầu dùng để sưởi ấm, giảm 4,2 triệu thùng, trái ngược với dự đoán tăng 573.000 thùng.
Nhu cầu đối với các sản phẩm dầu chưng cất đã tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 1/2003, qua đó thúc đẩy hoạt động mua vào.
Tuy nhiên, đà tăng của giá dầu trong phiên này phần nào bị kiềm chế sau khi quyết định tăng lãi suất của Fed đẩy đồng USD đi lên, khiến dầu - hàng hóa được định giá bằng đồng tiền này - trở nên đắt đỏ hơn đối với người mua nắm giữ các đồng tiền khác.
Giá dầu Brent và dầu thô ngọt nhẹ Mỹ đã giảm hơn 30% kể từ đầu tháng 10/2018 do nguồn cung gia tăng. Các nước sản xuất dầu trong và ngoài Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) trong tháng này đã nhất trí giảm sản lượng 1,2 triệu thùng/ngày tổng cộng nhằm hạn chế nguồn cung và thúc đẩy giá dầu. Nhưng phải đến tháng tới thì thỏa thuận này mới được thực hiện, và sản lượng của các nước sản xuất dầu hàng đầu thế giới là Mỹ, Nga và Saudi Arabia đang ở các mức cao kỷ lục.
Bộ trưởng Năng lượng Nga, Alexander Novak cho biết sản lượng dầu của Nga có thể sụt giảm trong năm tới do hiệp ước giảm sản lượng toàn cầu, kết thúc sự phát triển không ngừng kéo dài một thập kỷ. Novak cho biết việc sụt giảm sẽ đạt được trong quý 1/2019 do sản lượng đã vượt 11,42 triệu thùng/ngày từ đầu tháng 12/2018 tới nay. Novak phát biểu tại một ủy ban của đảng cầm quyền Nga ở Hạ viện cho biết sản lượng dầu của Nga có thể tăng khoảng 200.000 thùng/ngày trong năm nay lên 556 triệu tấn.
Tuy nhiên, giới phân tích vẫn nghi ngờ về sự hồi phục bền vững của giá dầu. Nhiều nhà phân tích cho rằng giá dầu thô có thể giảm sâu hơn nữa trong những tuần tới.
Có rất nhiều yếu tố có thể tác động đến cán cân thị trường dầu trong năm tới. Nhưng dựa trên các số liệu, thông tin và tâm lý thị trường hiện tại thì bất kỳ một đợt tăng giá nào của dầu thô cũng sẽ gặp phải sự kháng cự quyết liệt từ phía người bán”, chuyên gia phân tích cấp cao Tamas Varga thuộc PVM Oil Associates cho biết. “Chỉ trong một thời gian ngắn, thị trường năng lượng 2018 từ trạng thái ổn định bất ngờ chuyển sang trạng thái bất ổn. Một lần nữa, sự bất ổn và biến động lại ‘lên ngôi’”, nhóm chuyên gia phân tích của UBS cũng xác nhận ý kiến trên.
Giá than giảm trong phiên vừa qua do lo ngại nhu cầu thép yếu đi (than là một trong các nguyên liệu trong ngành sản xuất thép). Giá than luyện cốc tại Đại Liên lúc đóng cửa giảm 2,8% xuống 1.195,5 CNY (173,41 USD)/tấn, trong khi than cốc giảm 1,2% xuống 1.977 CNY. Trong phiên có lúc than cốc xuống chỉ 1.960 CNY.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm do đồng USD phục hồi sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) nâng lãi suất lần thứ tư trong năm nay và cho rằng cần thêm một vài đợt nâng lãi suất nữa trong năm 2019.
Kết thúc phiên, giá vàng kỳ hạ giao sau giảm 0,5% xuống 1.247,50 USD/ounce; vàng giao ngay cũng giảm 0,5% xuống 1.243,25 USD/ounce.
Sau khi kết thúc cuộc họp chính sách cuối cùng của năm nay, Fed cho hay nền kinh tế Mỹ vẫn đang tăng trưởng tốt và thị trường việc làm tiếp tục cải thiện. Theo đó, thể chế tài chính này đã nâng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm lên biên độ khoảng 2,25-2,5%, mức cao nhất kể từ năm 2008. Quyết định tăng lãi suất của Fed nằm trong lộ trình tăng lãi suất theo từng bước. Các dự báo kinh tế công bố ngày 19/12 cho thấy các nhà hoạch định chính sách dự kiến có hai lần tăng lãi suất vào năm 2019 và có thể một lần vào năm 2020.
Trước đó, chính quyền Tổng thống Donald Trump đã nhiều lần chỉ trích Fed về vấn đề lãi suất, cho rằng các đợt nâng lãi suất liên tục trong thời gian qua của Fed đã kìm hãm sự tăng trưởng của nền kinh tế lớn nhất thế giới này.
Đây là đợt tăng lãi suất thứ 4 trong năm 2018 và là lần nâng lãi suất thứ 9 kể từ tháng 12/2015, thời điểm FED bắt đầu nâng lãi suất lần đầu tiên sau gần 1 thập kỷ với mục đích kích thích nền kinh tế vượt qua giai đoạn suy thoái.
Thời gian qua, Fed đã thực thiện chính sách tăng lãi suất thường xuyên và ổn định, trong bối cảnh kinh tế được cải thiện. Đợt tăng lãi suất lần này là lần thứ chín của Fed.
SPDR Gold Trust, quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới, cho biết lượng vàng do quỹ này nắm giữ trong phiên 18/12 đã tăng 1,1% lên 771,79 tấn, mức cao nhất kể từ ngày 20/8.
Đối với những kim loại quý khác, giá palađi giao ngay trong phiên có lúc ghi nhận mức cao kỷ lục 1.283,49 USD/ounce và khép phiên tăng 1,8% lên 1.266 USD/ounce; giá bạc giao ngay giảm 0,4% xuống 14,58 USD/ounce, còn giá bạch kim giao ngay hạ 0,1% xuống 785,90 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá trên sàn London hầu hết đều tăng bởi giới đầu tư hy vọng Fed sẽ giảm tốc độ tăng lãi suất – yếu tố hỗ trợ nhu cầu kim loại (phần lớn nhu cầu kim loại đến từ các thị trường mới nổi như Trung Quốc, do đó đồng USD yếu đi khiến cho kim loại trở nên rẻ hơn khi mua bằng những tiền tệ khác). Đóng cửa phiên giao dịch, giá đồng hồi phục từ mức thấp nhất 3 tháng, đồng giao sau 3 tháng tăng 0,8% lên 6.016 USD/tấn. Giá kẽm, nickel và thiếc cũng tăng, duy chỉ có chì giảm nhẹ 0,4% xuống 1.965 USD/tấn. Giá nhôm tăng 0,1% lên 1.927 USD/tấn. Có một số thông tin mới liên quan tới mặt hàng này. Cụ thể, lượng nhôm lưu kho ở LME tiếp tục tăng 35.125 tấn lên1.052.900 tấn, đưa tổng mức tăng từ đầu tháng 10 đến nay lên 73%; sản lượng nhôm nguyên khai tại Trung Quốc tháng 11/2018 đã tăng 3,9% so với tháng trước đó lên 2,82 triệu tấn (cao hơn 19,2% so với cùng kỳ năm ngoái), đây là lần tăng đầu tiên sau 3 tháng liên tiếp giảm; và Canada kéo dài thời hạn miễn thuế nhập khảu nhôm và thép theo đề nghị của hãng xây dựng British Columbia – vốn phụ thuộc nhiều vào kim loại nhập khẩu.

Tuy nhiên, tại Trung Quốc, giá kim loại công nghiệp nhìn chung giảm Đồng giảm nhiều nhất trong phiên đi xuống thứ 5 liên tiếp, có lúc mất 2% còn 48.010 CNY (6.969,08 USD)/tấn, thấp nhất kể từ 18/9/2018, trước khi kết thúc phiên ở mức 48.090 CNY (giảm 1,9%); nickel giảm 1,6% xuống 89.380 CNY/tấn, trong khi nhôm và kẽm cùng giảm 0,5%.

Giá sắt thép trên thị trường Trung Quốc cũng giảm do triển vọng nhu cầu yếu đi. Quặng sắt giảm 0,2% xuống 487 CNY/tấn vào cuối phiên, sau khi có lúc mất tới 0,4%. Tuy nhiên, riêng thép cây trên sàn Thượng Hải giá vẫn tăng 0,2% lên 3.425 CNY/tấn, trong khi thép cuộn cán nóng tăng 0,5% lên 3.448 CNY/tấn. Lý do giá tăng là bởi hy vọng nhu cầu thép sẽ tăng vào năm tới.
Lợi nhuận của các nhà máy thép Trung Quốc tháng 11 vừa qua giảm mạnh do nguồn cung dồi dào và Chính phủ siết chặt việc kiểm soát sản xuất trong giai đoạn mùa Đông để tránh khói bụi.
Giá thép cây đã khởi sắc trong thời gian gần đây đúng như nhiều quan điểm trước đó cho rằng các biện pháp hạn chế sản lượng sẽ giới hạn nguồn cung, trong khi nhu cầu sẽ vẫn ở mức khá mạnh. Tất nhiên là vẫn có những dấu hiệu sớm cho thấy việc hạn chế sản lượng bắt đầu phát huy tác dụng, khi sản lượng thép đã giảm từ mức cao kỷ lục 82,55 triệu tấn trong tháng 10/2018 xuống 77,62 triệu tấn trong tháng 11/2018, mức thấp nhất trong bảy tháng.
Sản lượng thép tháng 12/2018 có thể sẽ vào khoảng 66 triệu tấn, nếu dự đoán tổng sản lượng năm 2018 mà Viện nghiên cứu và quy hoạch ngành luyện kim Trung Quốc đưa ra là chính xác. Cơ quan này dự đoán sản lượng thép thô của Trung Quốc sẽ đạt mức cao nhất từ trước đến nay là 923 triệu tấn trong năm nay, trong đó sản lượng trong các tháng 1-11/2018 đã lên đến 857,4 triệu tấn, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2017.
Dù khởi sắc trong thời gian gần đây nhưng giá thép vẫn thấp hơn chừng 14% so với mức giá cao nhất trong năm nay được ghi nhận cuối tháng 8/2018, trong khi số liệu kinh tế đã bắt đầu phát đi những tín hiệu đáng lo ngại về nhu cầu thép từ những ngành cần nhiều nguyên liệu này như xây dựng và sản xuất ô tô.
Một loạt những số liệu của Trung Quốc được công bố trong tuần trước cho thấy nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang chật vật để duy trì đà tăng trưởng, trong bối cảnh căng thẳng thương mại với chính quyền Mỹ gia tăng.
Tình hình kinh tế hiện tại như vậy khó có thể thúc đẩy nhu cầu thép tăng lên trong năm 2019, có nghĩa là những lạc quan đối với ngành này hiện đang dựa trên những kỳ vọng rằng Bắc Kinh sẽ thực hiện những biện pháp kích thích nền kinh tế, trong đó có những biện pháp tập trung vào cơ sở hạ tầng và xây dựng, vốn là hai ngành được xem là động lực chính thúc đẩy nhu cầu thép.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô trên sàn New York giao tháng 3 năm sau tăng 0,17 US cent (1,4%) lên 12,47 US cent/lb, đường trắng giao cùng kỳ hạn trên sàn London tăng 5 USD (1,5%) lên 341 USD/tấn.
Giá dầu cọ tại Malaysia vừa lập kỷ lục cao nhất 8 tuần theo xu hướng tăng của giá dầu đậu tương trên sàn Chicago (Mỹ) và dầu olein cọ trên sàn Đại Liên (Trung Quốc).
Hợp đồng dầu cọ kỳ hạn giao tháng 3/2019 kết thúc phiên giá tăng 2% lên 2.198 ringgit (526,21 USD)/tấn, mức cao chưa từng có kể từ 24/10/2018. Đầu phiên có lúc giá tăng 2,1% lên 2.200 ringgit/tấn.
Phiên liền trước, trên sàn Chicago, dầu đậu tương kỳ hạn giao tháng 1/2019 tăng 0,9% sau khi các nhà nhập khẩu Trung Quốc đặt mua chuyến đậu tương thứ 2 kể từ sau khi Mỹ - Trung tạm đình chiến. Trên sàn Đại Liên phiên giao dịch vừa qua, đầu đậu tương kỳ hạn giao tháng 1 cũng tăng 0,8%, trong khi dầu cọ tăng 1,6%.
Giá cao su trên thị trường Tokyo giảm khỏi mức cao nhất 2 tháng do giá dầu giảm trên 5% trong phiên liền trước khiến các nhà đầu tư hàng hóa có thái độ thận trọng hơn trong bối cảnh họ đang chờ đợi quyết định của Fed về chính sách lãi suất.
Cao su giao tháng 5 năm 2019 trên sàn TOCOM giảm 0,2 JPY tương đương 0,1% xuống 171,1 JPY (1,52 USD)/kg. Tại các thị trường khác, giá cao su cũng đồng loạt giảm. Trên sàn Thượng Hải, giá giảm 140 CNY xuống 11.305 CNY (1.640 USD)/tấn, còn tại SICOM (Singapore), giá giảm 0,3 US cent xuống 126,1 US cent/kg.
Cà phê arabica tăng 1,45 US cent (1,5%) lên 1,0085 USD/lb, trong khi robusta tăng 20 USD (1,4%) lên 1.507 USD/tấn. Đây là phiên tăng thứ 3 liên tiếp của loại robusta sau 13 phiên giảm trước đó.
Mưa lũ gần đây đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nông trường cà phê ở bang Kerala, Ấn Độ. Hội đồng Cà phê Ấn Độ (Coffee Board) dự báo sản lượng cà phê niên vụ 2018/19 ở mức 82.000 tấn trong niên vụ 2018 – 2019 do mưa lớn tại các vùng canh tác trọng điểm ở Karnataka, Kerala và Tamil Nadu. Sản lượng cà phê niên vụ 2017 – 2018 đạt 316.000 tấn. Sản lượng năm ngoái tại Kerala ước tính đạt 65.735 tấn trong khi ở Wayanad đạt 63.575 tấn.

Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

47,20

+0,96

+2,08%

Dầu Brent

USD/thùng

57,24

+0,98

+1,74%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

38.460,00

+150,00

+0,39%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,74

+0,02

+0,40%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

137,07

-1,56

-1,13%

Dầu đốt

US cent/gallon

179,34

-1,20

-0,66%

Dầu khí

USD/tấn

538,75

+8,50

+1,60%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

53.970,00

+30,00

+0,06%

Vàng New York

USD/ounce

1.246,70

-9,70

-0,77%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.487,00

-20,00

-0,44%

Bạc New York

USD/ounce

14,67

-0,15

-1,00%

Bạc TOCOM

JPY/g

52,70

-0,40

-0,75%

Bạch kim

USD/ounce

786,98

+0,64

+0,08%

Palađi

USD/ounce

1.256,92

-0,45

-0,04%

Đồng New York

US cent/lb

267,65

-3,95

-1,45%

Đồng LME

USD/tấn

5.970,00

-153,00

-2,50%

Nhôm LME

USD/tấn

1.925,00

-17,00

-0,88%

Kẽm LME

USD/tấn

2.520,00

-19,00

-0,75%

Thiếc LME

USD/tấn

19.210,00

-140,00

-0,72%

Ngô

US cent/bushel

381,75

-3,75

-0,97%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

522,50

-10,25

-1,92%

Lúa mạch

US cent/bushel

286,50

-0,50

-0,17%

Gạo thô

USD/cwt

10,62

-0,04

-0,38%

Đậu tương

US cent/bushel

913,00

-7,75

-0,84%

Khô đậu tương

USD/tấn

312,00

-2,70

-0,86%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,72

+0,05

+0,17%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

488,50

+0,10

+0,02%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.317,00

+46,00

+2,03%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

100,85

+1,45

+1,46%

Đường thô

US cent/lb

12,47

+0,17

+1,38%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

134,90

-0,80

-0,59%

Bông

US cent/lb

76,71

-1,14

-1,46%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

335,80

+10,50

+3,23%

Cao su TOCOM

JPY/kg

171,50

+0,40

+0,23%

Ethanol CME

USD/gallon

1,25

-0,01

-0,95%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters