Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng mạnh lên mức cao nhất kể từ tháng 11/2014 khi các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với lĩnh vực dầu mỏ của Iran tiến gần tới thời điểm thực thi và Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) sửa đổi tiến triển tích cực.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 2,05 USD lên 75,30 USD/thùng, cao nhất kể từ tháng 11/2014; dầu Brent Biển Bắc tăng 2,25 USD (2,7%) lên 84,98 USD/thùng.
Mỹ và Canada đạt thỏa thuận về sửa đổi NAFTA. Với bước tiến này, NAFTA sẽ tiếp tục là một thỏa thuận ba bên giữa Mỹ, Mexico và Canada, với tên gọi mới là Hiệp định Mỹ - Canada - Mexico (USMCA). Theo ông Phil Flynn, chuyên gia phân tích từ Price Futures Group tại Chicago, thỏa thuận mới về NAFTA sẽ giúp hỗ trợ giá dầu bởi hiệp định góp phần cải thiện triển vọng tăng trưởng không chỉ cho kinh tế Mỹ và Canada, mà còn cả khu vực Bắc Mỹ nói chung.
Giá dầu cao và đồng USD mạnh lên có thể tác động tới nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ trong năm tới. Hiện thị trường đang tập trung vào các biện pháp trừng phạt của Mỹ đối với Iran, dự kiến sẽ có hiệu lực từ 4/11/2018. Iran là nhà sản xuất dầu mỏ lớn thứ ba trong Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), với lượng xuất khẩu dự kiến sẽ giảm khoảng 1,5 triệu thùng/ngày.
Giá khí gas tự nhiên tại Mỹ tăng 3% lên cao nhất 8 tháng, do các nhà đầu tư đẩy mạnh mua vào, trong bối cảnh lo ngại về lượng tồn kho thấp trước khi bước vào những tháng mùa đông.
Giá khí gas tự nhiên kỳ hạn tháng 11/2018 tăng 8,6 US cent tương đương 2,9% lên 3,094 USD/mmBTU, cao nhất kể từ cuối tháng 1/2018, sau khi giảm hơn 1,5% trong phiên trước đó. Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết, các công ty tiện tích đã bổ sung thêm 46 tỉ feet khối(bcf) khí gas dự trữ trong tuần kết thúc ngày 21/9/2018, nâng dự trữ lên 2,768 nghìn tỷ bcf song vẫn giảm 18,3% so với mức trung bình vào thời điểm này trong vòng 5 năm (3,389 nghìn bcf) và chạm thấp nhất trong tuần kể từ năm 2003.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm khi giới đầu tư quan tâm nhiều hơn tới các tài sản có tính rủi ro sau khi Mỹ và Canada đạt thỏa thuận về sửa đổi Hiệp định chung giữa 3 nước.
Kết thúc phiên, vàng giao ngay giảm 0,3% xuống 1.187,98 USD/ounce, sau khi chạm mức thấp nhất sáu tuần là 1.180,34 USD/ounce vào phiên trước đó. Trong khi giá vàng Mỹ giao tháng 12/2018 cũng hạ 4,5 USD (0,4%) xuống 1.191,70 USD/ounce.
Thị trường chứng khoán và tiền tệ phản ứng khá tích cực với diễn biến trên và giới đầu tư có xu hướng rót tiền nhiều hơn vào mua đồng USD và và trái phiếu chính phủ của Mỹ, thay vì tìm tới vàng như là kênh trú ẩn an toàn.
Tháng Chín vừa qua chứng kiến tháng giảm giá thứ sáu liên tiếp của vàng, chuỗi tháng đi xuống dài nhất kể từ tháng 1/1997, chủ yếu do đồng USD mạnh lên cùng các số liệu tích cực của kinh tế Mỹ và quan ngại về nguy cơ cuộc chiến thương mại toàn cầu xảy ra.
Nhà đầu tư hiện có xu hướng mua đồng USD và trái phiếu chính phủ của Mỹ thay vì vàng như là một trong các tài sản an toàn, nhất là sau khi Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell tuần trước đã đề cập tới việc tiếp tục theo đuổi chính sách nâng lãi suất từ từ, điều báo hiệu khả năng đồng USD sẽ mạnh lên trong tương lai.
Đồng USD mạnh lên sẽ gây bất lợi cho các tài sản được định giá bằng đồng bạc xanh như vàng.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 1,1% xuống 14,44 USD/ounce; giá palađi cũng hạ 1,2% xuống 1.059,95 USD/ounce; trong khi giá bạch kim lại tăng 0,9% lên 819,35 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng giảm sau số liệu sản xuất từ nước tiêu thụ hàng đầu – Trung Quốc – suy giảm, dấy lên mối lo ngại về nhu cầu, song tồn kho tại London giảm đã hỗ trợ thị trường. Tăng trưởng trong lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc bị đình trệ trong tháng 9/2018, do nhu cầu trong và ngoài nước suy yếu, một dấu hiệu cho thấy rằng thuế quan của Mỹ đã ảnh hưởng đến nền kinh tế của nước này.
Giá đồng kỳ hạn giao sau trên sàn London giảm 0,1% xuống 6.250 USD/tấn, mặc dù dự trữ đồng tại London đạt 199,125 tấn, giảm gần 50% kể từ cuối tháng 3/2018 và chạm mức thấp nhất kể từ tháng 12/2017.
Giá nhôm tăng 1% lên 2.083 USD/tấn, do thị trường lo ngại về dự trữ nhôm tại London chỉ đạt 987.800 tấn, giảm hơn 50% kể từ tháng 1/2017 và chạm mức thấp nhất kể từ đầu năm 2008.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 11/2018 tăng 18 USD tương đương 1,2% lên 1.572 USD/tấn, trong phiên có lúc đạt 1.575 USD/tấn, cao nhất kể từ 20/8/2018, do xuất khẩu từ khu vực Lampung, Sumatra Indonesia trong tháng 9/2018 giảm 51% so với cùng tháng năm ngoái. Trong khi giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12/2018 giảm 0,25 US cent tương đương 0,2% xuống 1,022 USD/lb. Nhà phân tích Geordie Wilkes thuộc Sucden Financial cho biết: "Chúng tôi dự đoán xu hướng giảm vẫn duy trì trong dài hạn".
Giá đường tăng hơn 5%, do nhiều khách mua hàng mới tham gia thị trường và thỏa thuận thương mại gần đây nhất giữa Mỹ -Mexico – Canada đã thúc đẩy thị trường hàng hóa nông sản.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2019 tăng 0,41 US cent tương đương 3,7% lên 11,61 US cent/lb, trong phiên có lúc tăng hơn 5% lên 11,79 US cent/lb. Giá đường trắng kỳ hạn tháng 12/2018 tăng 6,7 USD tương đương 2,1% lên 327,2 USD/tấn, trong phiên có lúc giảm xuống 313,7 USD/tấn, do nhiều khách hàng mới tham gia thị trường quý cuối năm và các nhà sản xuất ít bán ra. Mỹ, Canada và Mexico tuyên bố đã đạt được thỏa thuận hiệp ước 3 bên để thay thế NAFTA. Trong khi đó, đồng real Brazil tăng cũng hỗ trợ giá đường tăng.
Giá ca cao kỳ hạn tháng 12/2018 trên sàn New York giảm 67 USD tương đương 3,3% xuống 1.990 USD/tấn, trong phiên có lúc chạm 1.982 USD/tấn, thấp nhất kể từ tháng 1/2018. Giá ca cao giao cùng kỳ hạn trên sàn London giảm 33 GBP tương đương 2,2% xuống 1.463 GBP/tấn, trong phiên có lúc chạm 1.455 GBP/tấn, thấp nhất kể từ tháng 1/2018.
Giá ngô tăng gần 3% và đậu tương tăng hơn 1% do thông tin thỏa thuận thương mại đã đạt được vào cuối tuần trước, giảm bớt lo ngại về Mỹ sẽ rời khỏi Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ, thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu nông sản của Mỹ trong 1/4 thế kỷ.
Giá ngô kỳ hạn tháng 12/2018 trên sàn Chicago tăng 9-1/2 US cent tương đương 2,7% lên 3,65-3/4 USD/bushel, tăng mạnh nhất trong 6 tháng. Giá đậu tương kỳ hạn tháng 11/2018 trên sàn Chicago tăng 12-1/4 US cent tương đương 1,4% lên 8,57-3/4 USD/bushel, trong phiên có lúc đạt mức cao nhất 5,5 tuần.

Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo tăng lên mức cao nhất 1 tháng do giá dầu tăng trở lại và đồng JPY suy yếu so với đồng USD, chạm mức thấp nhất kể từ giữa tháng 11/2017. Giá cao su kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Tokyo tăng 3,5 JPY lên 171,5 JPY (1,51 USD)/kg, trong phiên có lúc đạt 172,1 JPY/kg, cao nhất kể từ ngày 3/9/2018. Trong khi đó, giá cao su kỳ hạn tháng 11/2018 trên sàn SICOM tăng 0,7 US cent lên 133,7 US cent/kg, duy trì tương đối vững kể từ giữa tháng 9/2018.

Giá hàng hóa thế giới 

 

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

75,30

+2,25

+2,7%

Dầu Brent

USD/thùng

84,98

+0,25

-0,08%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

57.060,00

+1.100,00

+1,97%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,12

+0,03

+0,94%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

212,92

+0,17

+0,08%

Dầu đốt

US cent/gallon

240,73

-0,06

-0,02%

Dầu khí

USD/tấn

739,75

+5,25

+0,71%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

74.430,00

+1.110,00

+1,51%

Vàng New York

USD/ounce

1.194,40

+2,70

+0,23%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.349,00

+6,00

+0,14%

Bạc New York

USD/ounce

14,56

+0,05

+0,37%

Bạc TOCOM

JPY/g

53,40

+0,10

+0,19%

Bạch kim

USD/ounce

825,20

+1,65

+0,20%

Palađi

USD/ounce

1.060,93

+1,00

+0,09%

Đồng New York

US cent/lb

278,35

-0,40

-0,14%

Đồng LME

USD/tấn

6.249,00

-9,00

-0,14%

Nhôm LME

USD/tấn

2.084,00

+22,00

+1,07%

Kẽm LME

USD/tấn

2.656,00

+44,00

+1,68%

Thiếc LME

USD/tấn

18.975,00

+100,00

+0,53%

Ngô

US cent/bushel

364,25

-1,50

-0,41%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

511,75

+2,25

+0,44%

Lúa mạch

US cent/bushel

270,75

+1,00

+0,37%

Gạo thô

USD/cwt

10,16

+0,03

+0,25%

Đậu tương

US cent/bushel

855,75

-2,00

-0,23%

Khô đậu tương

USD/tấn

313,90

+0,10

+0,03%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,20

-0,11

-0,38%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

493,60

-1,00

-0,20%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.990,00

-67,00

-3,26%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

102,20

-0,25

-0,24%

Đường thô

US cent/lb

11,61

+0,41

+3,66%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

146,10

-1,50

-1,02%

Bông

US cent/lb

76,30

-0,01

-0,01%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

337,40

-7,00

-2,03%

Cao su TOCOM

JPY/kg

173,80

+2,30

+1,34%

Ethanol CME

USD/gallon

1,32

+0,01

+0,46%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg