Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm mặc dù dự trữ dầu thô của Mỹ và sản lượng dầu OPEC đều giảm.
Đóng cửa phiên giao dịch, giá dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 12/2017 trên sàn New York giảm 0,08 USD xuống còn 54,30 USD/thùng; dầu Brent trên sàn London giao tháng 1/2018 sụt giảm 0,45 USD xuống 60,49 USD/thùng.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết lượng dầu thô dự trữ của nước này đã giảm 2,4 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 27/10.
Trong khi đó, sản lượng khai thác dầu trong tháng 10/2017 của OPEC giảm 80.000 thùng dầu/ngày xuống 32,78 triệu thùng dầu/ngày, nâng mức độ tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng của khối này lên 92%, so với mức 86% trong tháng trước đó.
Theo khảo sát của OPEC, Iraq đã đạt được mức tuân thủ cao nhất. Sản lượng tại Venezuela, nơi lĩnh vực dầu mỏ bị thiếu kinh phí do nền kinh tế tồi tệ của nước này, giảm tiếp dưới mục tiêu của OPEC. Cả xuất khẩu và hoạt động lọc dầu là thấp hơn trong tháng 10.
Iraq có sản lượng sụt giảm mạnh nhất trong tháng 10, 120.000 thùng/ngày. Sản lượng và xuất khẩu ở miền bắc Iraq giảm từ giữa tháng khi lực lượng Iraq tiếp quản kiểm soát các mỏ dầu từ người Kurd, những người đã ở đó kể từ năm 2014. Xuất khẩu từ miền nam Iraq cũng giảm trong ba tuần đầu tháng 10 nhưng tăng trong tuần cuối phản ánh kế hoạch của Iraq bù cho sự sụt giảm của miền bắc.
Sản lượng của Algeria giảm do kế hoạch bảo dưỡng mỏ dầu. Sản lượng từ Nigeria và Libya, hai nhà sản xuất được miễn trừ khỏi việc cắt giảm sản lượng đã ổn định trong tháng 10. Sản lượng của Nigeria giảm 70.000 thùng/ngày. Xuất khẩu dầu Bonny Light bị bất khả kháng trong một giai đoạn tháng này và các thương nhân cho biết việc xuất khẩu một số loại khác đối mặt với chậm trễ.
Ngược lại, Libya đã bơm thêm 70.000 thùng/ngày trong tháng 10 do sản lượng ổn định hơn từ mỏ Sharara, mỏ dầu lớn nhất Libya. Sản lượng của Libya vẫn biến động và trung bình dưới mức đầu năm nay.
Tại các nước khác có sản lượng tăng, sự gia tăng lớn nhất trại Angola nơi xuất khẩu trong tháng 10 đã đạt mức cao 13 tháng.
Nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới Saudi Arabia đã bổ sung 30.000 thùng/ngày, với xuất khẩu đang tăng và dầu thô sử dụng tại các nhà máy điện sụt giảm theo mùa.
Theo khảo sát này, sản lượng trong tháng 10 đã đạt trung bình 32,65 triệu thùng/ngày cao hơn mục tiêu đã điều chỉnh loại bỏ Indonesia và không gồm Guinea Xích đạo. Với việc bổ sung Guinea Xích đạo, sản lượng trong tháng 10 đạt tổng cộng 32,78 triệu thùng/ngày, giảm 80.000 thùng/ngày so với tháng 9.
Về thông tin liên quan, Saudi Arabia - nước xuất khẩu dầu hàng đầu thế giới - dự kiến nâng giá bán dầu tháng 12/2017 cho các khách hàng tại châu Á lên các mức cao bằng năm 2013 hoặc 2014.
Nhà sản xuất này được dự kiến nâng giá bán chính thức tháng 12 của dầu Arab Light lên ít nhất 90 cent/thùng so với giá dầu Oman/Dubai, theo khảo sát 5 nhà máy lọc dầu. Theo số liệu của Reuters đây sẽ là mức cộng cao nhất kể từ 1,65 USD/thùng hồi tháng 9/2014.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng nhẹ sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) loan báo duy trì mức lãi suất mục tiêu trong thời điểm hiện nay.
Kết thúc phiên giao dịch, giá vàng giao ngay tăng 0,4% lên 1.276,37 USD/ounce; vàng giao tháng 12/2017 tăng 6,8 USD, tương đương 0,5%, lên 1.277,30 USD/ounce.
Vàng tiếp tục duy trì đà tăng giá sau thông báo của Fed cho thấy cơ quan này tiếp tục giữ nguyên lãi suất và đang hướng tới kế hoạch tăng lãi suất vào tháng 12/2017. Giá vàng đã và đang đi lên sau khi vượt ngưỡng giá trung bình trong 100 ngày là 1.275 USD/ounce.
Fed đã đưa ra thông báo trên một ngày trước khi danh tính của người đảm nhiệm chức vụ chủ tịch mới của Fed được công bố. Thành viên Ban Thống đốc Fed Jerome Powell được đánh giá là ứng viên thích hợp nhất cho vị trí này. Ông Powell được xem là người có quan điểm mềm mỏng và vì vậy sẽ có tác động tích cực tới giá vàng hơn so với ứng viên đối thủ chính của ông.
Về những kim loại quý khác, giá bạc tăng 2,7% lên 17,148 USD/ounce, sau khi đã có lúc chạm mức 17,195 USD/ounce, mức cao nhất kể từ ngày 20/10. Trong lúc giá bạch kim tăng 2,06 % lên 934,10 USD/ounce sau khi thời điểm vọt lên tới mức 937,30 USD/ounce, mức cao nhất kể từ ngày 16/10.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê và đường cùng giảm. Cà phê robusta giao tháng 1 năm sau giảm 40 USD tương đương 2,13% xuống 1.838 USD/tấn, trong phiên có lúc giá chạm 1.830 USD/tấn, thấp nhất kể từ tháng 9/2016. Lý do bởi Việt Nam sắp vào vụ thu hoạch, và các thương gia lo ngại về chất lượng cà phê khi thời tiết diễn biến thất thường trong thời gian vừa qua.
Cà phê arabica giao tháng 12 giảm 2,15 US cent tương đương 1,72% xuống 1,2295 USD/lb, trong phiên có lúc giá giảm hơn 3% xuống 1,2120 USD, thấp nhất kể từ cuối tháng 6.
Đường thô giao tháng 3 giảm 0,13 US cent tương đương 0,88% xuống 14,61 US cent/lb; đường trắng giao tháng 12 giảm 2 USD tương đương 0,5% xuống 382,40 USD/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

54,34

-0,04

-0,07%

Dầu Brent

USD/thùng

60,69

-0,25

-0,41%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

41.180,00

-230,00

-0,56%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,88

-0,02

-0,69%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

175,14

+1,89

+1,09%

Dầu đốt

US cent/gallon

187,20

-0,85

-0,45%

Dầu khí

USD/tấn

547,00

-0,75

-0,14%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

56.200,00

-230,00

-0,41%

Vàng New York

USD/ounce

1.277,90

+7,40

+0,58%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.664,00

+16,00

+0,34%

Bạc New York

USD/ounce

17,13

+0,43

+2,59%

Bạc TOCOM

JPY/g

63,00

+1,90

+3,11%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

935,15

+15,77

+1,72%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

1.001,99

+18,47

+1,88%

Đồng New York

US cent/lb

314,10

+4,00

+1,29%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.839,00

-28,00

-0,41%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.160,00

-3,00

-0,14%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.265,00

+56,00

+1,75%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.375,00

-50,00

-0,26%

Ngô

US cent/bushel

347,75

+2,00

+0,58%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

419,50

+1,00

+0,24%

Lúa mạch

US cent/bushel

271,75

+7,00

+2,64%

Gạo thô

USD/cwt

11,45

-0,15

-1,29%

Đậu tương

US cent/bushel

993,75

+9,00

+0,91%

Khô đậu tương

USD/tấn

314,30

+2,50

+0,80%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,93

+0,18

+0,52%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

521,10

+2,40

+0,46%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.120,00

+31,00

+1,48%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

122,15

-2,95

-2,36%

Đường thô

US cent/lb

14,76

+0,02

+0,14%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

152,15

-2,35

-1,52%

Bông

US cent/lb

68,42

+0,04

+0,06%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

451,60

+7,60

+1,71%

Cao su TOCOM

JPY/kg

197,00

-1,40

-0,71%

Ethanol CME

USD/gallon

1,45

+0,02

+1,25%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg