Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm mạnh do gia tăng lo ngại nhu cầu dầu trên toàn cầu sẽ yếu đi trong lúc sản lượng của các nước sản xuất dầu lớn tăng mạnh.
Kết thúc phiên, dầu Brent Biển Bắc giảm 2,15 USD, hay 2,9%, lên 72,89 USD/thùng, dầu ngọt nhẹ (WTI) giảm 1,62 USD, hay 2,5% xuống 63,69 USD/thùng, thấp nhất kể từ ngày 9/4/2018. Tháng 10 vừa qua, cả hai loại dầu trên đều giảm nhiều nhất kể từ tháng 7/2016, trong đó dầu Brent giảm 8,8% còn giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ giảm gần 11%. Giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ đã giảm 17% so với các mức cao ghi nhận đầu tháng 10/2018. Giới phân tích dự đoán hoạt động bán ra sẽ gia tăng trong những ngày tới, đồng thời cho biết dầu đang không tận dụng sự yếu đi của đồng USD hay sự phục hồi của các thị trường chứng khoán.
Bộ Năng lượng Mỹ mới đây cho biết tổng sản lượng dầu thô của Mỹ đã chạm mức cao kỷ lục 11,35 triệu thùng/ngày trong tháng 8/2018 và được dự đoán sẽ còn tiếp tục tăng. Trong khi đó, Nga đang sản xuất 11,41 triệu thùng/ngày, và một cuộc khảo sát của hãng tin Reuters cho thấy sản lượng dầu hàng ngày của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) tăng dần kể từ năm 2016.
Sản lượng dầu cao đang lấn át những lo ngại rằng thị trường sẽ không thể bù đắp cho việc lượng dầu xuất khẩu của Iran sụt giảm, khi lệnh trừng phạt của Mỹ bắt đầu có hiệu lực vào tuần tới.
Bên cạnh đó, dầu cũng đang chịu áp lực trước những lo ngại gia tăng về khả năng kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại khi căng thẳng thương mại Mỹ - Trung vẫn chưa được giải quyết và bắt đầu ảnh hưởng đến các nền kinh tế thị trường mới nổi.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng gần 2% giữa bối cảnh đồng USD giảm mạnh khiến vàng trở nên hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư nắm giữ các đồng tiền khác.
Vàng giao ngay cuối phiên tăng 1,7% lên 1.234,18 USD/ounce sau khi có lúc tăng 1,9% lên 1.237,39 USD/ounce, cao nhất kể từ ngày 26/10; vàng giao tháng 12/2018 tăng 23,6 USD (1,94%) lên 1.238,60 USD/ounce.
Chỉ số đồng USD, thước đo đồng tiền này so với giỏ tiền tệ gồm sáu đồng tiền lớn khác, đã giảm 0,9% sau khi vọt lên mức cao nhất trong 16 tháng trong phiên trước, nhờ số liệu khả quan về kinh tế Mỹ. Bên cạnh đó, sự đi xuống của lợi suất trái phiếu chính phủ của Mỹ và sự cải thiện của đồng NDT cũng là những yếu tố chính tác động đến thị trường vàng. Chiến lược gia Bart Melek, thuộc TD Securities, nhận định đồng bạc xanh giảm mạnh là chất xúc tác đáng kể thúc đẩy giá vàng trong phiên đầu tháng Mười Một.
Về những kim loại quý khác, giá bạch kim tăng 2,8% lên 859,40 USD/ounce sau khi có lúc tăng lên 860,90 USD/ounce, mức cao nhất kể từ ngày 27/6/2018; giá bạc tăng 3,7% lên 14,74 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nhôm tăng trở lại từ mức thấp nhất 15 tháng, do hoạt động mua vào kiếm lời sau khi giá nhôm giảm mạnh.
Nhôm giao sau 3 tháng trên sàn London tăng 0,6% lên 1.966 USD/tấn, sau khi chạm mức thấp nhất kể từ tháng 8/2017 (1.953 USD/tấn) trong phiên trước đó. Giá nhôm được hỗ trợ bởi các biện pháp kích thích kinh tế của Trung Quốc – nước tiêu thụ kim loại hàng đầu thế giới – cam kết sẽ thúc đẩy chi tiêu cơ sở hạ tầng trong nước để chống lại sự suy thoái kinh tế. Trong khi đó, dự trữ nhôm tại LME giảm 1.825 tấn xuống 723.900 tấn.
Giá nickel tăng cao khỏi mức thấp nhất 10 tháng đạt được trong phiên trước đó, tăng 2,7% lên 11.785 USD/tấn, khi công ty Nhật Bản, Sumitomo Corp giảm mức dự báo của họ về sản lượng nickel tại dự án Ambatovy ở Madagascar còn trên 40.000 tấn trong năm tính đến 31/3, thấp hơn dự báo 48.000 tấn đưa ra hồi tháng 5/2018.
Giá thép tại Trung Quốc giảm phiên thứ 4 liên tiếp xuống thấp nhất 3 tuần, do các nhà đầu tư lo ngại về tăng trưởng sản xuất chậm lại, bất chấp nước này đưa ra các biện pháp hỗ trợ nền kinh tế.
Giá thép cây kỳ hạn giao sau trên sàn Thượng Hải giảm 1,9% xuống 4.057 CNY (583,5 USD)/tấn, trong phiên có lúc giảm 2,6%, mức giảm mạnh nhất kể từ ngày 28/9/2018.
Chỉ số quản lý sức mua (PMI) của Caixin/Markit cho biết, tăng trưởng trong lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc trong tháng 10/2018 chỉ tăng nhẹ lên 50,1 từ mức 50 tháng trước đó.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12/2018 tăng 1,55 US cent tương đương 1,4% lên 1,1425 USD/lb và giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 1/2019 tăng 15 USD tương đương 0,9% lên 1.690 USD/tấn.
Giá đường giảm xuống mức thấp nhất 3,5 tuần, do hoạt động bán ra mạnh và nguồn cung dồi dào, trong khi đồng real Brazil tăng mạnh đẩy giá cà phê tăng. Đường trắng kỳ hạn tháng 12/2018 giảm 3,7 USD tương đương 1% xuống 352 USD/tấn, trong phiên có lúc chạm 350,3 USD/tấn, thấp nhất kể từ ngày 9/10/2018. Giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2019 giảm 0,06 US cent tương đương 0,5% xuống 13,13 US cent/lb.
Giá cacao kỳ hạn tháng 12/2018 trên sàn New York tăng 26 USD tương đương 1,2% lên 2.260 USD/tấn, do đồng USD suy yếu thúc đẩy giá. Tuy nhiên, giá cacao giao cùng kỳ hạn trên sàn London giảm 8 GBP tương đương 0,5% xuống 1.687 GBP/tấn, do đồng bảng Anh tăng.
Giá đậu tương tăng gần 4%, do kỳ vọng cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ dịu xuống, sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết, cuộc đàm phán thương mại với Bắc Kinh sẽ tích cực hơn.
Giá đậu tương kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn Chicago tăng 30-1/4 US cent tương đương 3,6% lên 8,83-3/4 USD/bushel, tăng mạnh nhất gần 4 tháng.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo giảm, do giá dầu thô giảm và các yếu tố cơ bản suy yếu, ngay cả khi giá cao su kỳ hạn tại Thượng Hải hồi phục khỏi chuỗi giảm 3 phiên liên tiếp. Giá cao su kỳ hạn tháng 4/2019 trên sàn TOCOM giảm 1,7 JPY (0,0151 USD) xuống 161,3 JPY/kg. Trong khi đó, giá cao su kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn Thượng Hải tăng 45 CNY (6,47 USD) lên 11.265 CNY/tấn.
Cao Lu, nhà phân tích cao cấp thuộc Orient Futures cho biết: "Giá cao su chịu áp lực giảm một mặt do giá dầu, mặt khác do các yếu tố cơ bản về cao su yếu và không có sự cải thiện. Ngoài ra, tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đối với xuất khẩu lốp xe trở nên rõ hơn".
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

63,68

-1,62

-2,50%

Dầu Brent

USD/thùng

72,89

-2,15

-2,9%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

49.680,00

-1.290,00

-2,53%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,24

+0,00

+0,06%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

171,10

-0,55

-0,32%

Dầu đốt

US cent/gallon

219,13

-0,95

-0,43%

Dầu khí

USD/tấn

671,50

-2,00

-0,30%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

65.230,00

-1.390,00

-2,09%

Vàng New York

USD/ounce

1.233,80

-4,80

-0,39%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.448,00

+45,00

+1,02%

Bạc New York

USD/ounce

14,71

-0,07

-0,45%

Bạc TOCOM

JPY/g

53,30

+1,60

+3,09%

Bạch kim

USD/ounce

863,38

+4,06

+0,47%

Palađi

USD/ounce

1.094,78

+0,07

+0,01%

Đồng New York

US cent/lb

271,75

-0,40

-0,15%

Đồng LME

USD/tấn

6.090,00

+98,00

+1,64%

Nhôm LME

USD/tấn

1.966,00

+12,50

+0,64%

Kẽm LME

USD/tấn

2.540,00

+47,00

+1,89%

Thiếc LME

USD/tấn

19.100,00

0,00

0,00%

Ngô

US cent/bushel

366,00

-0,75

-0,20%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

506,75

-1,25

-0,25%

Lúa mạch

US cent/bushel

282,75

+1,50

+0,53%

Gạo thô

USD/cwt

10,63

-0,03

-0,28%

Đậu tương

US cent/bushel

880,00

-2,00

-0,23%

Khô đậu tương

USD/tấn

311,50

-1,90

-0,61%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,18

-0,14

-0,49%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

488,90

-0,70

-0,14%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.287,00

+34,00

+1,51%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

117,80

+5,10

+4,53%

Đường thô

US cent/lb

13,19

0,00

0,00%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

138,30

+0,70

+0,51%

Bông

US cent/lb

78,89

-0,14

-0,18%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

326,00

+15,00

+4,82%

Cao su TOCOM

JPY/kg

162,40

+1,10

+0,68%

Ethanol CME

USD/gallon

1,29

0,00

-0,16%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg