Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng bất chấp số liệu cho thấy sản lượng dầu của Mỹ tăng và dự trữ dầu của cường quốc này tiếp tục ở mức cao.
Tại thị trường New York, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) tăng khoảng 29 US cent (0,5%) lên 53,69 USD/thùng, trong khi tại London giá dầu Brent Biển Bắc tăng 0,7% lên 56,18 USD/thùng.
Giới đầu tư lạc quan về hiệu quả của thỏa thuận cắt giảm sản lượng của các nước sản xuất dầu chủ chốt. Số liệu chính thức được công bố ngày 20/1 cho thấy lượng dầu xuất khẩu của Saudi Arabia đã giảm từ 8,258 triệu thùng/ngày hồi tháng 11/2016 xuống còn 8,014 triệu thùng/ngày trong tháng 12/2016.
Theo thỏa thuận đã được nhất trí hồi cuối năm ngoái, OPEC và một số nước không thuộc tổ chức này, bao gồm Nga, sẽ cắt giảm sản lượng 1,8 triệu thùng/ngày trong nửa đầu năm 2017. OPEC có thể kéo dài thời gian thực hiện cam kết hoặc tiến hành cắt giảm sản lượng sâu hơn từ tháng 7/2017, nếu dự trữ dầu thô toàn cầu không sụt giảm với tốc độ đủ để giúp thị trường cân bằng trở lại.
Bên cạnh đó, giá dầu cũng được hỗ trợ nhờ đồng USD suy yếu. Đồng USD tăng giá thường khiến cho dầu trở nên đắt đỏ hơn đối với người mua đang nắm giữ các đồng tiền khác.
Tuy nhiên, đà tăng của giá dầu trong phiên này bị hạn chế bởi số liệu về hoạt động sản xuất dầu của Mỹ. Công ty dịch vụ năng lượng Baker Hughes ngày cho biết các công ty năng lượng Mỹ đã tăng số giàn khoan trong tuần thứ năm liên tiếp.
Ngân hàng Goldman Sachs dự đoán với số giàn khoan dừng lại ở con số hiện tại, sản lượng dầu của Mỹ sẽ tăng 405.000 thùng/ngày trong thời gian từ quý IV/2016 đến quý IV/2017, và sản lượng dầu trung bình của nước này sẽ tăng 130.000 thùng/ngày trong năm 2017.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng vững trong bối cảnh USD giảm nhẹ.
Giá vàng giao ngay tăng 0,2% lên 1.238 USD/ounce, trong khi giá vàng giao sau giảm nhẹ xuống 1.238,5 USD/ounce.
Hoạt động giao dịch diễn ra không mấy sôi động do thị trường Mỹ đóng cửa nghỉ lễ và các nhà đầu tư đang chờ đợi kế hoạch thuế chi tiết của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Giới chuyên gia cho rằng thị trường vàng sẽ tiếp tục chờ đợi phát biểu của các quan chức thuộc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trong tuần này.
Trong khi đó, đồng USD đã suy yếu trong thời gian gần đây khi những cam kết cắt giảm thuế, nới lỏng quy định và tăng chi tiêu của ông Trump vẫn chưa có kế hoạch thật rõ ràng.
Giá vàng khá nhạy cảm với các đợt nâng lãi suất của Mỹ, do lãi suất tăng sẽ làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng đồng thời làm đồng USD tăng giá khiến kim loại quý này trở nên đắt đỏ hơn đối với người mua nắm giữ các đồng tiền khác.
Trên thị trường kim loại cơ bản, giá đồng và kẽm tăng mạnh do lo ngại về nguồn cung. Đồng tăng vượt 6.000 USD/tấn do quan ngại về sự gián đoạn của hai nguồn cung lớn nhất thế giới là Chile và Indonesia. Tại Chile, công nhân thuộc tập đoàn khai thác khoáng sản BHP Billiton biểu tình. Còn tại Indonesia, giấy phép xuất khẩu của tập đoàn Freeport McMoRan tại mỏ Grasberg đang gặp trục trặc. Công ty đang đứng trước nguy cơ phải rút hoạt động khai thác tại các mỏ khoáng sản Đông Nam Á. Song song với việc nhu cầu Trung Quốc tăng trở lại, Citi Research dự đoán nguồn cung đồng trong năm 2017 sẽ bị thâm hụt lần đầu tiên trong vòng sáu năm qua.
"Nguồn cung đồng sẽ không đáp ứng được nhu cầu của thế giới trong vòng nửa thập kỷ tới do hiệu ứng cộng hưởng giữa nhu cầu đồng của thị trường Trung Quốc tăng đột biến và thiếu kho dự trữ đồng".
Sau khi chạm ngưỡng cao lịch sử 10.000 USD/tấn vào tháng 2/2011, giá đồng trượt dốc từ từ uống còn 4.330 USD/tấn vào năm 2015- mức thấp nhất trong vòng 11 năm do nhu cầu đồng ở thị trường Trung Quốc chững lại. Citi Research dự báo việc thâm hụt nguồn cung sẽ đẩy giá đồng lên 6.000 USD/tấn trong sáu tháng cuối năm 2017. Mức đỉnh năm nay được dự đoán sẽ đạt 7.000 USD/tấn tại thời điểm cuối năm và trên 8.000 USD/tấn trước thời điểm cuối năm 2020. Năm 2016, lượng tiêu thụ đồng ở Trung Quốc tăng 5,7%. Citi Research cho rằng nhu cầu đồng ở Trung Quốc được kỳ vọng tăng khoảng 3-4% do kế hoạch cải tạo mạng lưới điện đang sắp sửa được triển khai.
Kẽm cũng tăng giá 1,5% lên 2.852 USD/tấn sau số liệu về tồn trữ ở London – giảm 11% xuống 258.050 tấn, thấp nhất kể từ tháng 1/2009.
Kẽm đã tăng giá 10% trong năm nay bởi lo ngại về việc đóng cửa hoặc tạm dừng ở những mỏ kẽm lớn, có thể gây thiếu cung.
Với nông sản, giá đường trắng tăng trong khi cà phê robusta và cacao giảm.
Đường trắng tăng giá thêm 4,8 USD hay 0,9% lên 554,90 USD/tấn. Thị trường Mỹ đóng cửa nhân ngày Lễ Tổng thống.
Giá cà phê robusta trên sàn London hầu hết giảm với hợp đồng giao tháng 5 giảm 2 USD hay 0,1% xuống 2.142 USD/tấn.
Lúa mì giảm giá sau một tuần tăng. Một số chuyên gia nhận định xu hướng tăng giá lúa mỳ gần đây được xem là "quá đà".
Các nhà đầu tư mặt hàng ngô đang chờ đợi báo cáo về diện tích gieo trồng ở Mỹ, dự kiến được USDA công bố trong tuần này. Ước tính sơ bộ của USDA hồi tháng 11/2016 cho thấy sự sụt giảm diện tích gieo trồng ngô ở Mỹ trong năm 2017, trong khi diện tích trồng đậu tương tăng lên. USDA thông báo tình hình xuất khẩu với những thông tin mới. Cụ thể, các nhà xuất khẩu tư nhân Mỹ báo cáo doanh số xuất khẩu 194.112 tấn ngô cho Nhật Bản, trong đó 60.000 tấn sẽ được giao trong niên vụ 2016/2017, và 134.112 tấn giao trong niên vụ 2017/2018.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,69

+0,29

+0,5%

Dầu Brent

USD/thùng

56,18

+0,07

+0,05%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

38.780,00

+120,00

+0,31%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,76

-0,07

-2,54%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

150,20

-1,46

-0,96%

Dầu đốt

US cent/gallon

164,65

+1,01

+0,62%

Dầu khí

USD/tấn

496,75

-0,75

-0,15%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

47.700,00

+110,00

+0,23%

Vàng New York

USD/ounce

1.234,90

-4,20

-0,34%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.487,00

+17,00

+0,38%

Bạc New York

USD/ounce

18,05

-0,05

-0,29%

Bạc TOCOM

JPY/g

65,20

0,00

0,00%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.001,80

-3,70

-0,37%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

770,00

-3,30

-0,43%

Đồng New York

US cent/lb

276,55

+4,55

+1,67%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.070,00

+110,00

+1,85%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.900,00

+20,00

+1,06%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.884,00

+74,50

+2,65%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.900,00

+175,00

+0,89%

Ngô

US cent/bushel

376,75

+1,25

+0,33%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

453,50

-2,00

-0,44%

Lúa mạch

US cent/bushel

252,50

+1,25

+0,50%

Gạo thô

USD/cwt

9,37

+0,04

+0,37%

Đậu tương

US cent/bushel

1.049,75

+6,50

+0,62%

Khô đậu tương

USD/tấn

346,40

+2,50

+0,73%

Dầu đậu tương

US cent/lb

33,25

+0,09

+0,27%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

525,00

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.000,00

-42,00

-2,06%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

149,55

+1,15

+0,77%

Đường thô

US cent/lb

20,26

-0,04

-0,20%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

176,25

+1,75

+1,00%

Bông

US cent/lb

75,52

-1,25

-1,63%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

371,10

+3,20

+0,87%

Cao su TOCOM

JPY/kg

304,60

+4,80

+1,60%

Ethanol CME

USD/gallon

1,55

-0,02

-1,02%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg