Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng sau số liệu cho thấy nguồn cung dầu của Mỹ đang dần thắt chặt.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 0,80 USD, hay 1,36%, lên 59,83 USD/thùng, sau khi có thời điểm chạm mức cao nhất trong phiên là 60,12 USD/thùng, cũng là mức cao nhất kể từ ngày 12/11/2018. Trong khi đó, giá dầu Brent Biển Bắc tăng 0,89 USD, hay 1,32% và chốt phiên ở mức 68,50 USD/thùng.
Giá dầu tăng trong phiên này sau khi Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ cho biết lượng dầu thô dự trữ của nước này đã bất ngờ giảm mạnh do xuất khẩu và nhu cầu lọc dầu khá cao. Cụ thể, lượng dầu dự trữ giảm 9,6 triệu thùng trong tuần trước, trái ngược dự đoán tăng 309.000 thùng mà giới phân tích đưa ra trước đó. Đây là mức giảm mạnh nhất kể từ tháng Bảy năm ngoái, đưa lượng dầu dự trữ của Mỹ xuống mức thấp nhất kể từ tháng Một. Bên cạnh đó, lượng xăng và các sản phẩm chưng cất dự trữ cũng giảm nhiều hơn dự đoán.
Giá dầu đã được bổ sung thêm gần 1/3 trong năm nay nhờ thỏa thuận cắt giảm sản lượng của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các nước đồng minh, trong đó có Nga, cũng như các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran và Venezuela.
Tuy nhiên, căng thẳng thương mại kéo dài suốt tám tháng qua giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đã ảnh hưởng tới các thị trường vốn đã bị bao trùm bởi những lo ngại về những dấu hiệu cho thấy tăng trưởng kinh tế có khả năng chậm lại trong năm nay. Trong khi đó, hiện đang có những dấu hiệu trái chiều về việc liệu bất đông thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc có thể sớm được hóa giải hay không.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng nhích nhẹ trong bối cảnh Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thông báo giữ nguyên lãi suất, và dự định sẽ không nâng lãi suất từ nay đến cuối năm.
Vàng giao ngay tăng 0,7% lên 1.315,5 USD/ounce, gần mức cao nhất 3 tuần (1.315,61 USD/ounce); vàng giao sau giảm 0,4% xuống 1.301,7 USD/ounce.
Sau phiên họp chính sách kéo dài hai ngày, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) ngày 20/3 ra thông báo giữ nguyên lãi suất ở mức 2,25-2,5%. Phần lớn (11/17) quan chức cấp cao về hoạch định chính sách của Fed cho rằng không cần thiết phải tăng lãi suất trong năm 2019.
Đồng USD giảm so với giỏ sáu tiền tệ chính cũng hỗ trợ giá vàng. Tuy nhiên, giá vàng Mỹ giao kỳ hạn lại giảm xuống 1.301,7 USD/per ounce.
Giá palađi tiếp tục tăng, đạt mức cao kỷ lục trong phiên ngày 20/3 do những lo ngại về tình trạng nguồn cung thiếu hụt. Cuối phiên, palađi ngay tăng 0,6% lên 1.605,51 USD/ounce, sau khi trước đó có lúc chạm mức cao kỷ lục 1.608 USD/ounce.
Kim loại này thường được sử dụng chủ yếu làm chất xúc tác trong ngành sản xuất xe cộ và được hưởng lợi từ việc thay thế động cơ sử dụng dầu diesel và nhu dầu đối với xe điện lai. Từ đầu năm 2019 đến nay, giá palladium đã tăng hơn 26% giá trị.
Về những kim loại quý khác, giá bạch kim giao ngay tăng 2,2% lên 864,25 USD/ounce, sau khi tăng 3% trong phiên 19/3. Còn giá bạc giao ngay tăng 1,1% lên 15,51 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá quặng sắt tại Trung Quốc giảm gần 6%, giảm mạnh nhất trong 3 tháng, do dự kiến nguồn cung tăng cao, khi Vale nối lại hoạt động khai thác quặng sắt lớn nhất tại Minas Gerais.
Giá quặng sắt kỳ hạn trên sàn Đại Liên giảm 3,8% xuống 613,5 CNY (91,4 USD)/tấn, trong phiên có lúc giảm mạnh 5,7%. Đồng thời, giá thép cây kỳ hạn trên sàn Thượng Hải giảm 0,5% xuống 3.777 CNY/tấn và giá thép cuộn cán nóng giảm 0,4% xuống 3.688 CNY/tấn.
Ngoài ra, giá quặng sắt còn chịu áp lực giảm bởi dự trữ quặng sắt nhập khẩu tại các cảng của Trung Quốc tăng 550.000 tấn lên 148,2 triệu tấn, cao nhất kể từ cuối tháng 9/2018, công ty tư vấn SteelHome cho biết.
Đối với nông sản, giá cà phê chạm mức thấp mới do dư cung toàn cầu, đặc biệt từ nước sản xuất hàng đầu – Brazil, trong khi giá ca cao giảm xuống mức thấp nhất 3 tháng. Cà phê kỳ hạn tháng 5/2019 giảm 1,9 US cent tương đương 2% xuống 94,75 US cent/lb, trong phiên có lúc chạm mức thấp mới 94,35 US cent/lb. Giá cà phê robusta giao cùng kỳ hạn giảm 13 USD tương đương 0,9% xuống 1.495 USD/tấn.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 5/2019 giảm 0,04 US cent tương đương 0,3% xuống 12,74 US cent/lb; giá đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 3,8 USD tương đương 1,1% xuống 338 USD/tấn.
Giá ca cao kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn New York giảm 59 USD tương đương 2,7% xuống 2.143 USD/tấn, trong phiên có lúc chạm 2.137 USD/tấn, thấp nhất kể từ ngày 12/12/2018. Và giá ca cao giao cùng kỳ hạn trên sàn London giảm 36 GBP tương đương 2,2% xuống 1.614 GBP/tấn, trước đó trong phiên chạm 1.612 GBP/tấn, thấp nhất hơn 6 tuần.
Giá lúa mì tăng gần 2%, do thời tiết xấu tại khu vực Trung Tây Mỹ vành đai trồng lúa mì mềm, vụ đông và khu vực phía bắc Plains Mỹ trồng lúa mì vụ xuân. Giá lúa mì mềm, đỏ vụ đông kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Chicago tăng 8-1/4 US cent lên 4,64-3/4 USD/bushel, giá lúa mì vụ xuân kỳ hạn tháng 5/2019 tăng 6-1/4 US cent lên 5,71-1/2 USD/bushel, trong phiên có lúc đạt 5,73-1/2 USD/busbel, cao nhất kể từ ngày 14/2/2019.
Đồng thời, giá đậu tương kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Chicago tăng 2 US cent lên 9,06 USD/bushel. Giá ngô giao cùng kỳ hạn trên sàn Chicago tăng 1/4 US cent lên 3,71-1/2 USD/bushel.
Giá dầu cọ tại Malaysia tăng phiên thứ 3 liên tiếp, do tăng trưởng sản xuất chậm lại. Giá dầu cọ kỳ hạn trên sàn Bursa Malaysia tăng 0,47% lên 2.141 ringgit (525,4 USD)/tấn.
Giá cao su tại Tokyo giảm xuống mức thấp nhất 1 tháng, chịu áp lực bởi giá cao su kỳ hạn tại Thượng Hải suy yếu và các nhà đầu tư đẩy mạnh bán ra trước ngày nghỉ lễ quốc gia của Nhật Bản. Giá cao su kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn TOCOM giảm 3,2 JPY tương đương 1,6% xuống 192 JPY (1,72 USD)/kg, trong phiên có lúc chạm 191,3 JPY/kg, thấp nhất kể từ ngày 19/2/2019. Đồng thời, giá cao su kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Thượng Hải giảm 25 CNY xuống 11.950 CNY (1.784 USD)/tấn. Giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn TOCOM giảm 1,2% xuống 169 JPY/kg.
Nhà phân tích Toshitaka Tazawa thuộc công ty môi giới hàng hóa Fujitomi Co. cho biết: "Lo ngại về doanh số bán ô tô tại Trung Quốc chậm lại, cũng như giá cao su kỳ hạn tại Thượng Hải suy yếu gây áp lực đối với giá cao su trên sàn TOCOM". Doanh số bán ô tô của Trung Quốc trong tháng 2/2019 giảm 13,8% so với cùng tháng năm ngoái, đánh dấu tháng giảm thứ 8 liên tiếp tại thị trường ô tô lớn nhất thế giới, Hiệp hội công nghiệp ô tô lớn nhất nước này cho biết.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

59,83

+0,80

+1,36%

Dầu Brent

USD/thùng

68,50

+0,89

+1,32%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

45.680,00

-40,00

-0,09%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,84

+0,02

+0,53%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

191,20

-0,46

-0,24%

Dầu đốt

US cent/gallon

200,71

-0,10

-0,05%

Dầu khí

USD/tấn

617,75

-0,75

-0,12%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

62.160,00

+460,00

+0,75%

Vàng New York

USD/ounce

1.317,70

+16,00

+1,23%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.662,00

-12,00

-0,26%

Bạc New York

USD/ounce

15,57

+0,25

+1,61%

Bạc TOCOM

JPY/g

55,00

-0,40

-0,72%

Bạch kim

USD/ounce

870,77

+8,21

+0,95%

Palađi

USD/ounce

1.611,70

+12,10

+0,76%

Đồng New York

US cent/lb

295,00

+2,90

+0,99%

Đồng LME

USD/tấn

6.457,00

-2,00

-0,03%

Nhôm LME

USD/tấn

1.937,00

-9,00

-0,46%

Kẽm LME

USD/tấn

2.863,00

+45,00

+1,60%

Thiếc LME

USD/tấn

21.375,00

+100,00

+0,47%

Ngô

US cent/bushel

371,25

-0,25

-0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

463,75

-1,00

-0,22%

Lúa mạch

US cent/bushel

272,75

-1,75

-0,64%

Gạo thô

USD/cwt

10,94

0,00

-0,05%

Đậu tương

US cent/bushel

906,50

+0,50

+0,06%

Khô đậu tương

USD/tấn

311,90

+0,30

+0,10%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,30

+0,03

+0,10%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

464,70

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.143,00

-59,00

-2,68%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

94,75

-1,90

-1,97%

Đường thô

US cent/lb

12,74

-0,04

-0,31%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

130,10

+0,85

+0,66%

Bông

US cent/lb

75,73

+0,23

+0,30%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

381,10

-4,40

-1,14%

Cao su TOCOM

JPY/kg

193,10

+1,10

+0,57%

Ethanol CME

USD/gallon

1,41

0,00

-0,07%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters, CafeF