Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng khoảng 5% khi căng thẳng Mỹ-Iran leo thang. Kết thúc phiên, dầu Brent Biển Bắc tăng 2,63 USD (4,3%) lên 64,45 USD/thùng, dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 2,89 USD (5,4%) lên 56,65 USD/thùng. Giá dầu Brent đã đạt mức cao nhất của năm 2019 là 75 USD/thùng trong tháng 4/2019.
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran ngày 20/6 thông báo đã bắn hạ một máy báy không người lái của Mỹ khi máy bay này di chuyển vào không phận của Iran gần khu vực Kouhmobarak ở miền Nam Iran, làm dấy lên lo ngại về một cuộc đối đầu quân sự giữa Tehran và Washington. Chiều cùng ngày, Bộ Quốc phòng Mỹ đã thừa nhận thông tin một máy bay do thám không người lái của nước này bị Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran bắn hạ, song phủ nhận thông tin cho rằng chiếc máy bay này đã đi qua không phận Iran.
Lo ngại về một cuộc đối đầu quân sự giữa hai nước đã gia tăng sau khi Mỹ cáo buộc Iran đứng sau các sự cố xảy ra với hai tàu chở dầu gần eo biển Hormuz, một điểm trung chuyển dầu quan trọng. Khu vực Trung Đông chiếm hơn 20% sản lượng dầu thế giới.
Đồn đoán Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể hạ lãi suất trong cuộc họp tiếp theo để kích thích tăng trưởng của quốc gia tiêu thụ dầu nhiều nhất thế giới và lượng dầu dự trữ tại các kho của Mỹ giảm cũng đã hỗ trợ thị trường năng lượng.
Chuyên gia phân tích Olivier Jakob thuộc Petromatrix nhận định triển vọng về một đợt cắt giảm lãi suất có thể là một yếu tố "thử thách" đối với “vàng đen” nếu căng thẳng Mỹ-Iran không gia tăng.
Các nước sản xuất dầu vùng Vịnh trong Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) sẽ duy trì sản lượng dầu tháng Bảy trong mục tiêu của OPEC bất chấp thỏa thuận cắt giảm nguồn cung trên toàn cầu hiện nay sắp hết hạn vào cuối tháng Sáu, một dấu hiệu cho thấy các nhà xuất khẩu vùng Vịnh không sẵn sàng tăng nguồn cung.
OPEC và các nước đồng minh, trong đó có Nga, dự kiến sẽ gia hạn thỏa thuận cắt giảm tổng sản lượng 1,2 triệu thùng/ngày. Liên minh này, còn gọi là OPEC+ đã nhất trí sẽ nhóm họp vào ngày 1-2/7 tới.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng chạm mức cao nhất của gần 6 năm sau khi Fed đánh đi tín hiệu thể chế tài chính này sẵn sàng hạ lãi suất vào tháng tới để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khiến đồng USD giảm mạnh. Chuyên gia phân tích của UBS cho hay lập trường ôn hòa của Fed về lãi suất đã đẩy giá vàng lên mức cao của 5 năm và hướng đến mốc 1.400 USD/ounce.
Kết thúc phiên, vàng giao ngay đạt mức cao nhất kể từ tháng 9/2013 là 1.392,84 USD/ounce, vàng giao sau tăng 3,6% lên 1.396,90 USD/ounce.
Ngày 19/6, Fed đã đánh tín hiệu rằng việc cắt giảm lãi suất sẽ bắt đầu từ tháng Bảy, đồng thời cho biết thể chế này sẵn sàng đối phó với những rủi ro kinh tế trong nước và trên toàn cầu đang ngày càng tăng trong bối cảnh căng thẳng thương mại kéo dài và lo ngại lạm phát yếu tăng lên.
Chuyên gia phân tích của UBS cho hay lập trường ôn hòa của Fed về lãi suất đã đẩy giá vàng lên mức cao của 5 năm và hướng đến mốc 1.400 USD/ounce.
Đồng USD đã giảm 0,5% so với rổ tiền tệ chính xuống 96,64, đồng thời đang trên đà ghi nhận mức giảm trong hai ngày nhiều nhất kể từ tháng 2/2018. Vàng được giao dịch bằng đồng AUD ở mức cao kỷ lục.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 2% lên 15,46 USD/ounce, mức cao nhất trong hơn 12 tuần qua. Trong khi đó, giá bạch kim giao ngay giảm xuống 808 USD/ounce và giá palladium hạ 0,8% xuống 1.488,50 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá niken và đồng tăng cao sau khi Fed báo hiệu cắt giảm lãi suất và các nhà đầu tư hy vọng rằng kinh tế Trung Quốc sẽ phục hồi.
Giá niken kỳ hạn 3 tháng tại LME chốt phiên tăng 1,7% lên 12.300 USD/tấn, mức cao nhất kể từ ngày 28/5.
Trong bốn tháng đầu năm, thâm hụt niken toàn cầu đã thu hẹp xuống còn 27.200 tấn so với mức thâm hụt 59.400 tấn trong cùng kỳ năm 2018.
Đồng thời, giá đồng tại LME tăng 0,9% chốt phiên ở mức 5.973 USD/tấn, gần chạm mức 6.027 USD, mức cao nhất kể từ ngày 21/5.
Giá quặng sắt của Trung Quốc đã tăng lên mức kỷ lục mới sau khi công ty Rio Tinto Ltd thông báo giảm lượng giao hàng, điều này có thể dẫn tới nguồn cung bị thắt chặt ngay cả khi Vale SA khôi phục sản xuất tại mỏ Brucutu. Giá quặng sắt giao tháng 9 tại sàn Đại Liên chốt phiên tăng 3,9% đạt 831 CNY (121,01 USD)/tấn, sau khi đã chạm 837 CNY.
Trong khi đó, giá thép kỳ hạn cũng tăng cao. Giá thép thanh xây dựng giao tháng 10/2019 tại Thượng Hải tăng 1,7% lên 3,825 CNY/tấn. Giá thép cuộn cán nóng đã tăng 2% lên 3.711 CNY/tấn.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê Arabica tăng lên mức cao nhất một tuần do USD yếu. Cà phê Arabica giao tháng 9/2019 tăng 3,85 cent, tương đương 3,9%, lên mức 1,018 USD/lb. Trước đó, giá chạm mức 1,0195 USD, cao nhất trong một tuần. Đồng thời, giá cà phê Robusta giao tháng 9 tăng 47 USD, tương đương 3,4%, lên mức 1,419 USD/tấn.
Trong khi tại Việt Nam, giá cà phê ít thay đổi so với tuần trước đó do nguồn cung vẫn thấp. Giá cà phê ở Tây Nguyên ổn định ở mức 33.000-34.000 đồng (1,42- 1,46 USD)/kg, so với 33.400-33.700 đồng/kg một tuần trước đó.
Cà phê robusta loại 2 (5% đen và vỡ) có giá +100 USD/tấn so với hợp đồng giao tháng 9/2019 trên sàn London, so với mức +60-90 USD/tấn cách đây một tuần.
Tại Indonesia, hoạt động giao dịch mạnh, vụ thu hoạch lớn đang đạt đỉnh. Mức cộng của cà phê robusta loại 4 khiếm khuyết 80 giao động từ 150 đến 180 USD so với hợp đồng kỳ hạn tháng 9 trên sàn ICE trong tuần này, so với mức 170- 200 USD trong tuần trước. Nguồn cung đang tăng và vụ thu hoạch dự kiến sẽ kéo dài đến tháng 8.
Giá cao su kỳ hạn giao tháng 11/2019 trên sàn Tokyo giảm 1,3 JPY, tương đương 0,6%, xuống còn 201,4 JPY/ kg. Giá cao su TSR20 giao hàng tháng 12 không đổi ở mức 163,4 JPY/ kg.Tại Thượng Hải, giá cao su đã giảm 0,1% xuống 11.810 CNY/ tấn. Trong khi tại Singapore, giá cao su giao hàng tháng 7 giảm 1,5% còn 148,90 cent Mỹ/kg.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

56,65

+2,89

+5,38%

Dầu Brent

USD/thùng

64,79

+0,34

+0,53%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.450,00

+1.160,00

+2,95%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,21

+0,03

+1,28%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

179,44

+0,81

+0,45%

Dầu đốt

US cent/gallon

189,54

+1,11

+0,59%

Dầu khí

USD/tấn

582,75

+3,25

+0,56%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57.790,00

+1.400,00

+2,48%

Vàng New York

USD/ounce

1.396,90

0,00

0,00%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.798,00

+23,00

+0,48%

Bạc New York

USD/ounce

15,44

-0,05

-0,34%

Bạc TOCOM

JPY/g

53.20

+0,6

+1,14%

Bạch kim

USD/ounce

812,55

+5,01

+0,62%

Palađi

USD/ounce

1.496,44

+9,56

+0,64%

Đồng New York

US cent/lb

271,35

+0,15

+0,06%

Đồng LME

USD/tấn

5.973,00

+55,00

+0,93%

Nhôm LME

USD/tấn

1.781,00

-3,00

-0,17%

Kẽm LME

USD/tấn

2.468,00

-10,00

-0,40%

Thiếc LME

USD/tấn

19.175,00

+275,00

+1,46%

Ngô

US cent/bushel

462,75

+1,75

+0,38%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

530,75

-1,00

-0,19%

Lúa mạch

US cent/bushel

283,25

-0,50

-0,18%

Gạo thô

USD/cwt

11,57

+0,01

+0,09%

Đậu tương

US cent/bushel

939,75

-1,25

-0,13%

Khô đậu tương

USD/tấn

330,50

-0,50

-0,15%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,22

+0,02

+0,07%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

469,70

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.446,00

-67,00

-2,67%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

101,80

+3,85

+3,93%

Đường thô

US cent/lb

12,68

-0,06

-0,47%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

103,45

+1,35

+1,32%

Bông

US cent/lb

65,82

-0,14

-0,21%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

384,20

-2,10

-0,54%

Cao su TOCOM

JPY/kg

199,50

-1,00

-0,50%

Ethanol CME

USD/gallon

1,59

+0,03

+1,86%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters