Trên thị trường năng lượng, giá khí tự nhiên kỳ hạn tại Mỹ tăng phiên thứ 2 do nhu cầu khí tăng trong bối cảnh nhiệt độ cao hơn bình thường, nhưng sản lượng tăng vọt lên mức cao kỷ lục và dự báo thời tiết ôn hòa đã hạn chế đà tăng. Khí tự nhiên hóa lỏng kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn giao dịch New York tăng 0,8 US cent hay 0,4% lên 2,218 USD/mmBtu.
Giá dầu tiếp tục tăng bởi hy vọng căng thẳng thương mại Mỹ - Trung sẽ hạ nhiệt và các nền kinh tế lớn sẽ thực hiện các biện pháp kích thích tăng trưởng.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent trên sàn London tăng 29 US cent (0,5%) lên 60,03 USD/thùng; dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tại thị trường New York tăng 13 US cent lên 56,34 USD/thùng.
Việc Mỹ mới đây cho biết sẽ trì hoãn thêm 3 tháng lệnh cấm công ty công nghệ Huawei Technologies (Trung Quốc) giao dịch với các doanh nghiệp Mỹ phát đi tín hiệu cho thấy, căng thẳng thương mại giữa hai nền kinh tế hàng đầu thế giới đang dịu bớt.
Trong khi đó, các thị trường chứng khoán trên thế giới đã đi lên trước những dự đoán ngày càng tăng về việc các nền kinh tế trên thế giới sẽ thực hiện các biện pháp nhằm ứng phó với tình trạng tăng trưởng chậm lại cũng như hỗ trợ giá dầu. Trong khi Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC, ngân hàng trung ương) thông báo các cải cách đối với chính sách lãi suất để giảm chi phí cho vay đối với doanh nghiệp, Chính phủ Đức cho biết sẽ chuẩn bị vay nợ mới để ngăn chặn nguy cơ suy thoái kinh tế.
Ngoài ra, những quan ngại về nhu cầu dầu thế giới trong thời gian tới đã tác động tới giá dầu. Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) đã hạ dự báo tăng trưởng nhu cầu dầu thế giới trong năm 2019 bớt 40.000 thùng/ngày xuống còn 1,1 triệu thùng/ngày và cho rằng thị trường “vàng đen” thế giới sẽ trong tình trạng dư cung nhẹ vào năm 2020.
Hiện tại, giới doanh nghiệp đang dõi theo các dấu hiệu về tình trạng căng thẳng địa chính trị ở khu vực Trung Đông sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 20/8 cảnh báo các quốc gia Địa Trung Hải sẽ phải nhận "hậu quả” nếu hỗ trợ tàu chở dầu Grace 1 của Iran. Trước đó, Tàu Grace 1 đã bị Hải quân Hoàng gia Anh và chính quyền Gibraltar (vùng lãnh thổ thuộc Anh) bắt giữ từ ngày 4/7 với cáo buộc vi phạm lệnh trừng phạt của Liên minh châu Âu (EU) chở dầu tới Syria. Ngày 15/8, chính quyền và Tòa án Tối cao Gibraltar đã quyết định dỡ bỏ lệnh bắt giữ và thả tàu Grace 1 sau khi Iran cung cấp một số tài liệu cần thiết. Tuy vậy, một ngày sau, Bộ Tư pháp Mỹ công bố lệnh bắt giữ tàu này và có ý định tịch thu toàn bộ số dầu trên tàu trị giá 995.000 USD, do vi phạm Đạo luật Quyền hạn kinh tế khẩn cấp quốc tế (IEEPA). Hiện thị trường dầu cũng đang chờ đợi thông tin về dự trữ dầu thô của Mỹ (được công bố hàng tuần), ước giảm 1,9 triệu thùng trong tuần qua. Theo dự kiến, Chính phủ Mỹ sẽ công bố số liệu về dự trữ dầu thô của nước này vào sáng 21/8 (giờ địa phương).
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng hồi phục do thị trường chứng khoán Mỹ sụt điểm và đồng USD giảm giá. Cuối phiên, vàng giao ngay tăng 0,7% lên 1.505,68 USD/ounce, vàng giao sau tăng 0,3% lên 1.515,7 USD/ounce.
Giá vàng đã giảm 2 con số trong ngày 19/8, xuống mức thấp nhất trong gần một tuần là 1.492,1 USD/ounce, khi các chỉ số công nghiệp Dow Jones, chỉ số tổng hợp S&P 500 vả chỉ số công nghệ Nasdaq của thị trường chứng khoán Phố Wall (Mỹ) tăng nhanh, hòa chung xu hướng đi lên của các thị trường chứng khoán trên thế giới.
Khi các chỉ số quan trọng của thị trường Phố Wall sụt giảm trong ngày 20/8, giá vàng đã hồi phục phần nào khi các nhà đầu tư lại hướng về các tài sản an toàn, trong đó có vàng.
Trong khi đó, chỉ số đồng USD, thước đo giá trị đồng bạc xanh so với giỏ các đồng tiền chủ chốt khác, đã giảm 0,18% xuống còn 98,17 (điểm) trước khi thị trường vàng đóng cửa. Khi chỉ số đồng USD giảm, giá vàng giao kỳ hạn thường tăng do kim loại quý này được định giá bằng USD trở nên rẻ hơn đối với các nhà đầu tư nắm giữ các đồng tiền khác.
Ngoài ra, giá vàng còn nhận được sự hỗ trợ khi lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm giảm xuống mức 1,55%.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao tháng 9/2019 tăng 20,8 xu Mỹ (tương đương 1,23%) lên 17,184 USD/ounce khi đóng cửa, trng khi giá bạch kim giao tháng 10/2019 giảm 4 USD (0,47%) xuống còn 852,80 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng giảm do thị trường tập trung vào triển vọng nhu cầu suy yếu hơn tại quốc gia tiêu thụ hàng đầu Trung Quốc, nơi hoạt động sản xuất giảm tốc do tranh chấp thương mại Mỹ - Trung kéo dài.
Đồng trên sàn giao dịch kim loại London (LME) giảm 1,1% xuống 5.711 USD/tấn. Giá kim loại này đã giảm 13% kể từ giữa tháng 4/2019. Nhu cầu đồng đã giảm 0,8% trong tháng 7/2019 so với tháng 7/2018, số liệu tiêu cực tháng thứ 3 liên tiếp. Trung Quốc chiếm khoảng một nửa nhu cầu đồng toàn cầu, ước tính khoảng 24 triệu tấn trong năm nay.
Mức chiết khấu tăng lên hơn 28 USD/tấn đối với đồng giao ngay so với hợp đồng giao sau 3 tháng cũng cho thấy nguồn cung đồng dồi dào trên thị trường LME. Mức chiết khấu trong ngày 17/7 là 7 USD/tấn. Dự trữ đồng tại kho LME ở mức 329.600 tấn, gần gấp đôi mức hồi cuối tháng 5/2019.
Giá nhôm trên sàn LME cũng giảm 0,7% xuống 1.782 USD/tấn. Tuy nhiên, giá nhôm tại sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải đã tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 10/2018 do lo ngại gián đoạn sản xuất tại Trung Quốc.
Tập đoàn Xinfa, một trong những nhà sản xuất nhôm hàng đầu Trung Quốc đã đóng cửa một dây chuyền sản xuất nhôm sau vụ nổ tại một nhà máy nằm ở Tân Cương, tây bắc Trung Quốc. Trung Quốc đã sản xuất 35,8 triệu tấn nhôm trong năm 2018, trong khi sản lượng 7 tháng đầu năm 2019 là 20,49 triệu tấn, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước.
Giá quặng sắt Trung Quốc giảm phiên thứ 4 liên tiếp do lo lắng về nguồn cung dịu đi, trong khi gia tăng việc hạn chế sản xuất tại Đường Sơn, thành phố sản xuất thép hàng đầu Trung Quốc. Hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 1/2020 trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên đóng cửa giảm 2,2% xuống 609 CNY (86,25 USD)/tấn, mức đóng cửa thấp nhất kể từ ngày 11/6.
Quặng sắt kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn giao dịch Singapore giảm 0,5% xuống 86,08 USD/tấn vào cuối phiên giao dịch. Thép cây trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải đóng cửa giảm 0,8% xuống 3.699 CNY/tấn. Thép cuộn cán nóng giảm 0,5% xuống 3.709 CNY/tấn.
Nhà sản xuất thép hàng đầu của Trung Quốc đã nhập khẩu quặng sắt tăng vọt 21% trong tháng 7/2019 so với tháng trước đó, lên mức cao nhất kể từ tháng 1 do nguồn cung tăng mạnh từ các công ty khai thác mỏ ở Australia và Brazil.
Nhập khẩu quặng sắt đã giảm sau vụ vỡ đập gây chết người ở Brazil vào tháng 1 và lốc xoáy ở Australia, đồng thời tăng cường sản xuất thép tại Trung Quốc đã nâng giá giao ngay của nguyên liệu thô này lên mức cao nhất 5 năm trong những tháng gần đây. Giá đã giảm trở lại nhưng vẫn cao hơn mức năm 2018.
Theo các biện pháp chống ô nhiễm mới của Đường Sơn, nhà sản xuất thép HBIS Tangsteel được phép vận hành một nhà máy nung kết trong thời gian 4 ngày từ 18/8. Mỗi công ty thép Huaxi Steel và Guoyi Special Steel chỉ có thể vận hành 2 nhà máy. Các nhà máy khác ở Đường Sơn được yêu cầu giảm hoạt động nung kết 50% so với mức giảm 20% tới 50% trước đây áp dụng cho tháng 8.
Nhu cầu của Trung Quốc đối với quặng sắt viên nhỏ và quặng sắt chất lượng cao dự kiến tăng nhanh trong năm 2020 do nỗ lực của Bắc Kinh chuyển các nhà máy thép ra các khu vực ven biển trong cuộc chiến chống khói bụi.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabia kỳ hạn tháng 12 tăng 0,45 US cent hay 0,5% lên 95,25 US cent/lb, sau khi xuống mức thấp nhất 3 tháng tại 93,4 US cent. Cà phê robusta kỳ hạn tháng 11 tăng 5 USD hay 0,4% lên 1.324 USD/tấn.
Chỉ số đồng USD tăng do lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ tăng nhẹ. Sự tăng giá của USD không tốt cho đồng real đã ở mức thấp 3 tháng so với USD và đã mất 8% trong tháng qua. Đồng real yếu dễ gây tổn thương cho thị trường trong ngắn hạn.
Thị trường cà phê đã khó khăn để tiêu thụ sản lượng kỷ lục của Brazil trong năm ngoái và dự đoán một vụ lớn trong năm nay.
Đường thô kỳ hạn tháng 10 giảm 0,03 US cent hay 0,3% xuống 11,44 US cent/lb. Đường trắng kỳ hạn tháng 10 giảm 1,3 USD hay 0,4% xuống 309,1 USD/tấn.
Thị trường này đã giao dịch trong biên độ nhỏ những phiên gần đây, kẹt giữa những dấu hiệu nguồn cung dư thừa trong ngắn hạn và dự báo trong dài hạn thị trường sẽ chuyển thành thiếu hụt. Các đại lý tiếp tục theo dõi thông báo từ Ấn Độ với dự đoán rằng Ấn Độ sẽ gia hạn hệ thống trợ cấp xuất khẩu đường cho tới tháng 9/2020.
Giá cao su kỳ hạn trên sàn giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM) tiếp tục giảm từ đầu phiên giao dịch do các nhà sản xuất lớn kết thúc việc hạn chế xuất khẩu. Hợp đồng cao su TOCOM kỳ hạn tháng 1/2020 đóng cửa giảm 1.9 JPY xuống 1,71 JPY/kg.
Cao su kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải tăng 15 CNY (2,12 USD) lên 11.565 CNY/tấn. Các nhà sản xuất cao su tự nhiên hàng đầu thế giới đã quyết định kết thúc việc hạn chế xuất khẩu mặt hàng này.

Giá hàng hóa thế giới

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

56,34

+0,13

+0,23%

Dầu Brent

USD/thùng

60,03

+0,29

+0,5%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

36.820,00

+160,00

+0,44%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,22

0,00

-0,09%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

168,56

+0,45

+0,27%

Dầu đốt

US cent/gallon

185,52

+0,09

+0,05%

Dầu khí

USD/tấn

568,75

+5,25

+0,93%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

55.010,00

+150,00

+0,27%

Vàng New York

USD/ounce

1.514,60

-1,10

-0,07%

Vàng TOCOM

JPY/g

5.132,00

+17,00

+0,33%

Bạc New York

USD/ounce

17,10

-0,05

-0,28%

Bạc TOCOM

JPY/g

58,50

+0,60

+1,04%

Bạch kim

USD/ounce

847,89

-1,67

-0,20%

Palađi

USD/ounce

1.485,52

-4,54

-0,30%

Đồng New York

US cent/lb

258,40

0,00

0,00%

Đồng LME

USD/tấn

5.711,00

-63,00

-1,09%

Nhôm LME

USD/tấn

1.782,00

-12,00

-0,67%

Kẽm LME

USD/tấn

2.226,00

-36,00

-1,59%

Thiếc LME

USD/tấn

16.475,00

0,00

0,00%

Ngô

US cent/bushel

369,75

+1,00

+0,27%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

466,50

0,00

0,00%

Lúa mạch

US cent/bushel

273,50

+1,50

+0,55%

Gạo thô

USD/cwt

11,29

+0,01

+0,09%

Đậu tương

US cent/bushel

870,75

+2,50

+0,29%

Khô đậu tương

USD/tấn

299,80

+0,30

+0,10%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,97

+0,18

+0,63%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

451,70

+0,30

+0,07%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.174,00

-17,00

-0,78%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

95,25

+0,45

+0,47%

Đường thô

US cent/lb

11,44

-0,03

-0,26%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

95,70

+1,30

+1,38%

Bông

US cent/lb

58,88

-0,26

-0,44%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

366,20

-5,70

-1,53%

Cao su TOCOM

JPY/kg

169,00

-2,00

-1,17%

Ethanol CME

USD/gallon

1,30

+0,01

+0,85%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters