Trên thị trường năng lượng, giá dầu tiếp tục tăng sau khi Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) thông báo lượng dầu thô dự trữ của nước này giảm mạnh hơn dự kiến.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao tháng 2/2018 trên sàn New York tăng 0,27 USD (0,5%) lên 58,36 USD/thùng, trong khi giá dầu Brent giao tháng 2/2018 tăng 0,34 USD (hay 0,5%) lên 64,90 USD/thùng tại London.
Theo EIA, dự trữ dầu thô của nền kinh tế lớn nhất thế giới trong tuần kết thúc vào ngày 15/12 giảm 6,5 triệu thùng, xuống mức 436,5 triệu thùng, mức thấp nhất kể từ tháng 10/2015.
Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng đang theo dõi việc đường ống dẫn dầu Biển Bắc phải dừng hoạt động để khắc phục sự cố rò rỉ. Nhà điều hành hệ thống đường ống dầu này, Ineos dự kiến sẽ hoàn tất việc sửa chữa đường ống trong khoảng kỳ lễ Giáng sinh và đưa đường ống vào hoạt động bình thường vào dịp Năm mới.
Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và 10 nhà sản xuất dầu mỏ khác tháng trước đã nhất trí gia hạn thỏa thuận cắt giảm sản lượng tới hết năm 2018. Bộ trưởng Dầu mỏ Kuwait, Bakhit al-Rashidi cho biết, mức độ tuân thủ thỏa thuận trên hiện đạt 122%, mức cao nhất kể từ khi thỏa thuận này đi vào thực thi.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng thế giới ngày 21/12 tăng năm phiên liên tiếp, giữa bối cảnh đồng USD biến động trong biên độ hẹp, sau số liệu mới về kinh tế Mỹ.
Giá vàng giao ngay có thời điểm mạnh lên 1.268,26 USD/ounce, mức cao nhất kể từ ngày 6/12, trước khi trở về mức 1.266,35 USD/ounce; vàng giao tháng 2/2018 tăng 0,08% lên 1.270,60 USD/ounce.
Giá vàng còn được hỗ trợ bởi sự đi xuống của lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ. Chiến lược gia Rob Haworth, thuộc Bank Wealth Management, cho hay thị trường đang khá trầm lắng và chờ đợi thêm những yếu tố có tính định hướng.
Ngày 21/12, Hạ viện Mỹ đã thông qua một dự luật chi tiêu tạm thời nhằm ngăn chặn việc cơ quan chính phủ liên bang bị đóng cửa trước hạn chót vào đêm 22/12. Dự luật này được trình lên Thượng viện Mỹ xem xét thông qua, có khả năng vào cuối ngày 21/12.
Theo báo cáo mới công bố của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), giá kim loại quý này có nhiều khả năng sẽ tiếp tục tăng trong năm 2018. Tính từ đầu năm tới nay giá đã tăng 9% trong bối cảnh Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) trong lộ trình nâng lãi suất và chứng khoán đi lên.
Các chuyên gia cho rằng với vai trò là nơi trú ẩn an toàn, giá vàng được hưởng lợi từ tình hình bất ổn chính trị tại bán đảo Triều Tiên, khu vực Trung Đông và sự thiếu chắc chắn xung quanh tiến trình rời Liên minh châu Âu (EU) của nước Anh, cũng như các cuộc tấn công khủng bố nhằm vào các thành phố lớn của châu Âu.
Bên cạnh đó, ông Reade cho rằng chính sách tiền tệ cũng sẽ là một nhân tố định hướng nhu cầu vàng.
Theo ông Reade, trước mối lo về tình hình lạm phát vẫn ảm đạm trên quy mô toàn cầu, tiến trình thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ chậm lại.
Gần đây, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), Ngân hàng trung ương Anh (BoE) và Ngân hàng trung ương Thụy Sỹ đã không “theo gót” Mỹ và vẫn giữ nguyên lãi suất chủ chốt.
Theo thống kê của WGC, nhờ một loạt lễ hội truyền thống, nhu cầu vàng trang sức của Trung Quốc tăng 13%, lên 159,3 tấn trong quý III/2017, chấm dứt chuỗi 10 quý giảm liên tiếp.
Wang Lixin, cán bộ quản lý cao cấp của WGC, cho rằng thị trường Trung Quốc đóng góp lớn nhất cho sự tăng trưởng nhu cầu vàng thỏi và vàng xu trong quý 3 vừa qua.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô giao tháng 3 tăng 0,2% tương đương 1,4% lên 14,77 US cent/lb, trong phiên có lúc giá lên 14,82 US cent, mức cao nhất kể từ 6/12. Tính từ đầu năm tới nay, giá giảm khoảng 24%, mức giảm mạnh nhất kể từ 2001. Đường trắng giao tháng 3 giá tăng 5,6 USD tương đương 1,5% lên 386,90 USD/tấn.
Mặt hàng cà phê giảm giá trên cả 2 sàn giao dịch, với robusta giao tháng 3 giảm 8 USD tương đương 0,5% xuống 1.705 USD/tấn, trong khi arabica giao cùng kỳ hạn giảm 0,9 US cent tương đương 0,7% xuống 1,2225 USD/lb.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/-(%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

58,36

+0,27

+0,5%

Dầu Brent

USD/thùng

64,90

+0,34

+0,7%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

42.860,00

+70,00

+0,16%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,62

+0,02

+0,81%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

173,99

-0,77

-0,44%

Dầu đốt

US cent/gallon

194,69

-0,33

-0,17%

Dầu khí

USD/tấn

576,00

-0,25

-0,04%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57.830,00

-50,00

-0,09%

Vàng New York

USD/ounce

1.268,90

+1,70

+0,13%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.602,00

-6,00

-0,13%

Bạc New York

USD/ounce

16,17

-0,07

-0,42%

Bạc TOCOM

JPY/g

59,40

0,00

0,00%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

911,10

-5,23

-0,57%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

1.038,25

-1,27

-0,12%

Đồng New York

US cent/lb

320,40

-1,55

-0,48%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.086,00

+42,00

+0,60%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.148,00

+26,00

+1,23%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.242,00

+24,00

+0,75%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.350,00

-125,00

-0,64%

Ngô

US cent/bushel

351,00

-0,25

-0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

427,25

+0,25

+0,06%

Lúa mạch

US cent/bushel

244,00

0,00

0,00%

Gạo thô

USD/cwt

12,12

-0,16

-1,30%

Đậu tương

US cent/bushel

957,75

-1,25

-0,13%

Khô đậu tương

USD/tấn

317,70

-0,40

-0,13%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32,79

-0,04

-0,12%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

498,50

+0,70

+0,14%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.907,00

-24,00

-1,24%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

122,25

-0,90

-0,73%

Đường thô

US cent/lb

14,77

+0,20

+1,37%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

136,45

-1,90

-1,37%

Bông

US cent/lb

77,94

+2,23

+2,95%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

435,90

+10,00

+2,35%

Cao su TOCOM

JPY/kg

204,10

-2,30

-1,11%

Ethanol CME

USD/gallon

1,32

+0,01

+1,07%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg