Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô giảm khỏi mức cao nhất trong năm nay sau khi có thông tin cho biết kho dự trữ dầu thô của Mỹ tăng mạnh và sản lượng đạt mức cao kỷ lục và lo ngại kinh tế thế giới giảm tốc.
Kết thúc phiên này, tại thị trường New York, giá dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giảm 20 US cent xuống 56,96 USD/thùng, sau khi chạm mức cao nhất kể từ đầu năm nay là 57,55 USD/thùng ở phiên trước đó; dầu Brent Biển Bắc trên sàn London cũng giảm nhẹ 1 US cent xuống 67,07 USD/thùng, sau khi lập kỷ lục cao trong năm 2019 là 67,38 USD/thùng ở phiên trước.
Dự trữ dầu thô của Mỹ vừa ghi nhận tuần tăng thứ năm liên tiếp, đạt mức cao nhất trong hơn một năm qua, giữa bối cảnh sản lượng dầu mỏ của nước này chạm mức cao kỷ lục và các nhà máy lọc dầu bước vào chu trình bảo dưỡng định kỳ, khiến tỷ lệ dầu tinh chế hạ thấp. Cụ thể, theo báo cáo mới nhất từ cơ quan thông tin năng lượng thuộc Bộ Năng lượng Mỹ, dự trữ dầu thô của Mỹ trong tuần kết thúc ngày 15/2 đã tăng 3,7 triệu thùng, lên 454,5 triệu thùng, mức cao nhất kể từ tháng 10/2017, bất chấp xuất khẩu dầu thô của nước này tăng 1,2 triệu thùng/ngày, lên 3,6 triệu thùng/ngày. Trong khi đó, sản lượng dầu của Mỹ, vốn đạt mức cao nhất thế giới vào năm ngoái, đã leo lên mức cao kỷ lục mới là 12 triệu thùng/ngày. Ngoài ra, giới phân tích cho rằng các dấu hiệu cho thấy xu hướng giảm tốc của nền kinh tế thế giới cũng là một trong những nhân tố “níu chân” giá dầu sau khi chạm các mức cao vào đầu tuần này.
Tuy vậy, nỗ lực cắt giảm sản lượng của Tổ chức Các nước xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các nước đồng mình bao gồm cả Nga, cũng như các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với lĩnh vực dầu mỏ của Iran và Venezuela đã phần nào kiềm chế đà giảm của giá dầu. Thêm vào đó, tiến triển trong đàm phán thương mại Mỹ-Trung cũng góp phần đẩy lùi nguy cơ bùng nổ cuộc chiến thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, qua đó hỗ trợ thị trường dầu mỏ.
Giá khí tự nhiên tăng lên mức cao nhất 3 tuần, do dự báo thời tiết lạnh hơn so với dự kiến. Giá khí gkỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn New York tăng 6,1 US cent tương đương 2,3% lên 2,697 USD/mBTU, cao nhất kể từ ngày 1/2/2019.
Giá than luyện cốc tại Trung Quốc tăng lên mức cao nhất trong 6 phiên, sau 1 vụ tai nạn tại mỏ Queensland và việc hạn chế nhập khẩu than đá Australia, đã làm gia tăng lo ngại về nguồn cung nguyên liệu sản xuất thép. Giá than luyện cốc kỳ hạn trên sàn Đại Liên tăng 2,1% lên 1.285 CNY (191,62 USD)/tấn, sau khi tăng 2,9% trong đầu phiên giao dịch. Giá than cốc kỳ hạn tăng phiên thứ 4 liên tiếp, tăng 1,7% lên 2.126,5 CNY/tấn, cũng do lo ngại về nguồn cung thiếu hụt. Than luyện cốc được nung nóng để sản xuất than cốc, được sử dụng sản xuất quặng sắt và thép.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng rời khỏi mức cao nhất trong 10 tháng do hoạt động bán chốt lời và những tín hiệu cho thấy Fed sẽ không nới lỏng chính sách tiền tệ như dự đoán trước đó. Kết thúc phiên, vàng giao ngay giảm 1% xuống còn 1.324,70 USD/ounce, sau khi chạm mức 1.346,73 USD/ounce trong phiên trước đó, mức cao nhất kể từ ngày 19/4; vàng giao sau giảm khoảng 1,5% và được giao dịch ở mức 1.327,80 USD/ounce.
Quản lý cấp cao của công ty High Ridge Futures, David Meger, cho biết phần lớn mọi người đều cho rằng Fed sẽ giữ lập trường nới lỏng tiền tệ đến cuối năm nay. Nhưng trong biên bản cuộc họp chính sách gần đây nhất diễn ra trong hai ngày 29-30/1, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cho biết nền kinh tế và thị trường lao động Mỹ đều đang khỏe mạnh, qua đó làm dấy lên những đồn đoán rằng Fed có thể sẽ có ít nhất là một đợt tăng lãi suất nữa trong năm nay.
Giá vàng khá nhạy cảm với chính sách tiền tệ của Mỹ, do lãi suất tăng sẽ làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng đồng thời làm đồng USD tăng giá khiến kim loại quý này trở nên đắt đỏ hơn đối với người mua nắm giữ các đồng tiền khác.
Ngoài ra, theo ông Jim Wyckoff, chuyên gia phân tích cấp cao của công ty Kitco Metals, hiện có nhiều thông tin cho thấy các cuộc đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đang diễn ra tốt đẹp, từ đó cho phép nhu cầu đối với các loại tài sản rủi ro hơn quay trở lại thị trường.
Về những kim loại khác, giá bạch kim giảm 0,4% xuống còn 819,50 USD/ounce, trong khi giá bạc cũng giảm gần 1,7% và được giao dịch ở mức 15,76 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng giảm khỏi mức cao nhất 7 tháng, do đồng USD tăng và các nhà đầu tư chốt lời. Giá đồng giao sau 3 tháng trên sàn London giảm 0,4% xuống 6.379 USD/tấn, sau khi đạt mức cao nhất (6.426,5 USD/tấn) kể từ ngày 10/7/2018 trong phiên trước đó. Đồng USD tăng mạnh, sau biên bản cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ làm gia tăng kỳ vọng khả năng tăng lãi suất của Mỹ trong năm nay.
Giá thép cây kỳ hạn trên sàn Thượng Hải tăng 1,6% lên 3.677 CNY/tấn và giá thép cuộn cán nóng tăng 1,3% lên 3.671 CNY/tấn.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giảm phiên thứ 2 liên tiếp, xuống mức thấp nhất 5 tháng do nguồn cung dồi dào và đồng real yếu đi, trong khi giá đường và cacao cũng giảm.
Cà phê arabica giao tháng 5 giảm 1,95 US cent tương đương 1,9% xuống 99,45 US cent/lb, trong khi robusta giao cùng kỳ hạn giảm 11 USD tương đương 0,7% xuống 1.533 USD/tấn.
Đường thô giao tháng 5 giảm 0,18 US cent tương đương 1,4% xuống 13,20 US cent/lb, trong khi đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 3,8 USD tương đương 1,1% xuống 356,2 USD/tấn.
Giá lúa mì tại Chicago tăng trở lại sau 4 phiên giảm liên tiếp, trong khi thị trường ngũ cốc duy trì vững, khi các cuộc đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc có thể đạt được thỏa thuận, chấm dứt chiến tranh thương mại. Giá lúa mì đỏ, mềm vụ đông kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Chicago tăng 5-3/4 US cent lên 4,86-1/2 USD/bushel, và giá lúa mì kỳ hạn tháng 5/2019 tăng 6-3/4 US cent lên 4,91 USD/bushel.
Đồng thời, giá ngô kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Chicago tăng 4-3/4 US cent lên 3,75-1/2 USD/bushel và giá đậu tương giao cùng kỳ hạn trên sàn Chicago tăng 8-1/2 US cent lên 9,11 USD/bushel.
Giá dầu cọ tại Malaysia chạm mức thấp nhất 1 tháng, giảm phiên thứ 3 liên tiếp, do dự kiến nhu cầu trong những tuần tới sẽ chậm hơn và giá các loại dầu khác suy yếu. Giá dầu cọ giảm hướng theo giá các loại dầu thực vật khác suy giảm và triển vọng nhu cầu yếu. Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Bursa giảm 0,2% xuống 2.241 ringgit (550,88 USD)/tấn, trong phiên có lúc chạm 2.234 ringgit/tấn, thấp nhất kể từ ngày 18/1/2019. Nhà phân tích thị trường, Wang Tao dự kiến, giá dầu cọ sẽ giảm xuống 2.214 ringgit/tấn, phá vỡ ngưỡng hỗ trợ 2.249 ringgit/tấn.
Đồng thời, giá dầu đậu tương kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Chicago giảm 0,1% và giá dầu đậu tương kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Đại Liên giảm 0,8%. Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Đại Liên giảm 1,5%.
Giá cao su tại Tokyo rời khỏi chuỗi tăng 3 phiên liên tiếp và giảm khỏi mức cao nhất 9 tháng, do các nhà đầu tư bán ra chốt lời. Giá cao su kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn TOCOM giảm 2,4 JPY tương đương 1,2% xuống 195,1 JPY (1,76 USD)/kg. Và giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn TOCOM giảm 0,5% xuống 165,3 JPY/kg. Đồng thời, giá cao su kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Thượng Hải giảm 25 CNY xuống 12.325 CNY (1.835 USD)/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

56,91

-0,05

-0,09%

Dầu Brent

USD/thùng

66,99

-0,08

-0,12%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

45.200,00

-100,00

-0,22%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,68

-0,01

-0,48%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

161,07

-0,37

-0,23%

Dầu đốt

US cent/gallon

203,33

-0,30

-0,15%

Dầu khí

USD/tấn

622,25

+1,25

+0,20%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

60.890,00

-150,00

-0,25%

Vàng New York

USD/ounce

1.328,10

-0,30

-0,02%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.705,00

-48,00

-1,01%

Bạc New York

USD/ounce

15,89

-0,02

-0,13%

Bạc TOCOM

JPY/g

56,30

-0,80

-1,40%

Bạch kim

USD/ounce

824,26

+1,05

+0,13%

Palađi

USD/ounce

1.475,37

+1,60

+0,11%

Đồng New York

US cent/lb

290,30

+0,45

+0,16%

Đồng LME

USD/tấn

6.380,00

-25,00

-0,39%

Nhôm LME

USD/tấn

1.905,00

+37,00

+1,98%

Kẽm LME

USD/tấn

2.683,00

-15,00

-0,56%

Thiếc LME

USD/tấn

21.425,00

+175,00

+0,82%

Ngô

US cent/bushel

384,25

0,00

0,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

493,00

+2,00

+0,41%

Lúa mạch

US cent/bushel

275,50

+1,50

+0,55%

Gạo thô

USD/cwt

10,40

+0,01

+0,05%

Đậu tương

US cent/bushel

924,75

+0,50

+0,05%

Khô đậu tương

USD/tấn

310,40

+0,60

+0,19%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,78

-0,04

-0,13%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

482,90

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.275,00

-42,00

-1,81%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

99,45

-1,95

-1,92%

Đường thô

US cent/lb

13,20

-0,18

-1,35%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

120,35

+0,30

+0,25%

Bông

US cent/lb

74,01

+1,85

+2,56%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

394,30

+8,80

+2,28%

Cao su TOCOM

JPY/kg

194,20

-0,90

-0,46%

Ethanol CME

USD/gallon

1,34

+0,02

+1,28%

Nguồn: VITIC/Bloomberg. Reuters. CafeF