Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng lên mức cao nhất kể từ 2014 do lo ngại sản lượng dầu tại Venezuela có thể sẽ tiếp tục giảm sâu sau cuộc bầu cử Tổng thống và nguy cơ Caracas sẽ rơi vào tầm ngắm cấm vận của các nước.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 6/2018 đã tăng 96 US cent, tương đương 1,4%, lên 72,24 USD/thùng, trước đó có lúc chạm mốc 72,33 USD/thùng –giá cao nhất kể từ tháng 11/2014; dầu Brent Biển Bắc giao tháng 7/2018 cũng tăng 71 US cent (0,9%) lên 79,22 USD/thùng.
Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tiến hành các cuộc thảo luận với phía Nga và Trung Quốc về vấn đề nợ tại Venezuela. Ngày 21/5, ông Trump cũng đã ký sắc lệnh nhằm hạn chế khả năng thanh lý tài sản quốc gia của Venezuela. Bất kỳ sự can thiệp nào vào hoạt động tài chính, hậu cần hay nguồn cung điện của Venezuela đều sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng dầu của quốc gia thành viên Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) này.
Trong hai năm qua, sản lượng dầu của Venezuela đã giảm 1/3, xuống mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ. Đây là một trong những nguyên nhân khiến giá dầu Brent đã vượt ngưỡng 80 USD/thùng vào tuần trước (lần đầu tiên kể từ năm 2014).
Ngoài ra, những lo ngại về việc Mỹ tiến hành trừng phạt Iran có thể hạn chế xuất khẩu dầu thô của nước này đã khiến giá giao dịch cao hơn trong những tuần gần đây. Bên cạnh đó, cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đang dịu lại sau khi hai nền kinh tế lớn nhất thế giới nhất trí hướng tới thỏa thuận thương mại rộng lớn hơn, điều này có thể thúc đẩy nhu cầu dầu mỏ, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin cho biết.
Theo nhận định của Phó Chủ tịch về nghiên cứu Gene McGillian của hãng chuyên tư vấn về năng lượng Tradition Energy ở Stamford, bang Connecticut, có khả năng thị trường sẽ tiếp tục phá vỡ mốc này trong thời gian tới. Ông McGillian cho rằng trong thời gian này nếu giá dầu giảm sẽ chỉ là kết quả của việc giới đầu tư đẩy mạnh bán ra chốt lời trong ngắn hạn. Và thị trường có thể sẽ một lần nữa vượt ngưỡng 80 USD/thùng.
Tuy nhiên, sản lượng gia tăng từ các nhà sản xuất chính OPEC và đá phiến của Mỹ có thể kết thúc xu hướng tăng giá này. Trên thực tế, việc giá dầu vượt 80 USD/thùng sẽ rất hấp dẫn các nhà sản xuất dầu đá phiến Mỹ.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu năm sau khi Mỹ và Trung Quốc nhất trí đình chỉ áp thuế, đồng thời giới chức cả 2 nước khẳng định cuộc chiến tranh thương mại sẽ không xảy ra.
Kết thúc phiên giao dịch, giá vàng giao ngay giảm 0,03% xuống 1.291,1 USD/ounce, sau khi có thời điểm giảm xuống mức thấp nhất kể từ cuối tháng 12/2017 là 1.281,76 USD/ounce; vàng giao tháng Sáu giảm 40 US cent hay 0,03% xuống 1.290,90 USD/ounce.
Hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đã nhất trí sẽ tiến hành đàm phán thêm nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa từ Mỹ sang Trung Quốc. Ông Michael Matousek, phụ trách giao dịch tại Global Investors (Mỹ) cho hay với những diễn biến mới này, các nhà đầu tư quốc tế đã đẩy mạnh hoạt động bán vàng.
Đồng USD mạnh lên và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm lần đầu vượt mức 3,05% kể từ năm 2011 cũng gia tăng áp lực giảm giá đối với vàng. Các chuyên gia tài chính nhận định, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục nâng lãi suất vào tháng tới, từ đó khiến những loại tài sản không sinh lời như vàng trở nên kém hấp dẫn hơn với giới đầu tư.
Về những kim loại quý khác, giá bạc tăng 0,4% lên 16,49 USD/ounce; giá bạch kim tăng 1,9% lên 899,50 USD/ounce (đầu phiên có lúc giá xuống thấp nhất trong năm là 873,50 USD); giá palađi tăng 2,9% lên 990,72 USD.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng tăng lên mức cao nhất hơn 1 tuần do cuộc chiến thương mại Mỹ- Trung đã dịu bớt, mặc dù đồng USD tăng; trong khi đó giá nickel chịu áp lực giảm. Đồng giao sau 3 tháng trên sàn giao dịch kim loại London chốt phiên tăng 0,6% lên mức 6.895 USD/tấn, trong ngày giá đã chạm mức cao nhất trong một tuần là 6.923 USD/tấn; giá nickel giảm 0,7% chạm mức 14.650 USD/tấn, sau khi giá quặng sắt Đại Liên chạm mức thấp hai tuần sau khi có thông tin các nhà máy thép có thể trì hoãn việc mua nguyên liệu thô do nhu cầu không chắc chắn. Giá quặng sắt kỳ hạn tại Sở giao dịch Đại Liên, Trung Quốc đã giảm 3% xuống 462 NDT (72,29 USD)/tấn, mức thấp nhất kể từ ngày 7/5, do hoạt động bán có tính kỹ thuật và gia tăng lo ngại rằng các nhà máy thép tại nước sản xuất thép lớn nhất thế giới này có thể bị hoãn đơn đặt hàng do bấp bênh về nhu cầu tiêu thụ. Giá giảm bất chấp tồn kho quặng sắt tại các cảng Trung Quốc liên tục giảm, giảm 1,2 triệu tấn so với tuần trước xuống còn 157,56 triệu tấn, nhưng vẫn theo sát mức kỷ lục 162,8 triệu tấn hồi cuối tháng 3, theo Mysteel. Tỷ lệ sử dụng công suất sản xuất thép tại các nhà máy thép đã tăng trở lại mức trước khi mùa nóng bắt đầu, khi lò cao đã đóng cửa một phần để giảm lượng khí thải hồi đầu tháng 11, đạt 70,17% trong tuần trước.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 7 tăng 2,2 US cent tương đương 1,9% lên 1,202 USD/lb sau khi đột ngột xuất hiện sương giá ở một số vùng trồng cà phê thuộc Sao Paulo and Minas Gerais. Robusta giao cùng kỳ hạn tăng 33 USD (1,9%) lên 1.795 USD/tấn. Đồng real mạnh lên cũng hỗ trợ giá cà phê tăng.
Mặt hàng đường cũng tăng giá do hoạt động mua đầu cơ và đồng nội tệ Brazil mạnh lên. Đường thô kỳ hạn tháng 7 tăng 0,44 cent, tương đương 3,8%, đạt mức 12,1 cent/lb, cao nhất kể từ ngày 16/4 là 12,24 cent. Đây là phiên tăng điểm lớn nhất trong một ngày đối với hợp đồng giao ngay kể từ tháng 12 tới nay. Đường trắng kỳ hạn tại London tăng 9,8 USD (3%) lên 340 USD/tấn, mức cao nhất 4 tuần, nhờ hoạt động mua đầu cơ và dấu hiệu cho thấy giá thế giới giảm có thể khiến cắt giảm sản xuất. Thái Lan mới đây đã tăng sử dụng mía để sản xuất ethanol. Ấn Độ cân nhắc thay đổi quy định cho phép các nhà máy sản xuất nhiều ethanol hơn mặc dù các thương gia cho rằng điều này sẽ gây thiếu hụt nguồn cung đường.
Giá đậu tương kỳ hạn của Trung Quốc giảm xuống mức thấp nhất ba tháng trong phiên giao dịch đầu tuần do căng thẳng thương mại dịu bớt giữa hai nền kinh tế hàng đầu thế giới cuối tuần qua, Trung Quốc nhất trí sẽ nhập khẩu nhiều mặt hàng nông sản từ Mỹ. Hợp đồng đậu tương giao dịch mạnh nhất trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên, giao tháng 12, giảm 0,6% xuống 2.942 NDT(461,03 USD)/tấn, mức thấp nhất trong 3 tháng.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo đã tăng 3,1% chốt phiên giao dịch ngày 21/05 do căng thẳng thương mại dịu bớt giữa Mỹ và Trung Quốc, USD mạnh hơn so với đồng yên. Trung Quốc nhất trí tăng cường mua hơn nữa hàng hóa và dịch vụ của Mỹ, làm giảm bớt căng thẳng thương mại giữa hai nước. Bắc Kinh và Washington đã thống nhất sẽ tiếp tục thảo luận về các biện pháp mà theo đó Trung Quốc sẽ nhập khẩu nhiều hơn nông sản và năng lượng từ Mỹ để xóa dần chênh lệch thương mại gần 335 tỷ USD hàng năm giữa hai nước. USD đã leo lên mức cao mới 4 tháng trong ngày hôm qua sau thông báo này.
Giá cao su tại Tocom giao tháng 10 chốt phiên giao dịch tăng 6,1 yên lên mức 200 yên (1,80 USD)/kg sau khi chạm mức 200,6 yên phiên sáng, mức cao nhất kể từ ngày 29/1.Giá cao su kỳ hạn tháng 9 tại sở giao dịch Thượng Hải tăng 530 NDT lên mức 12.230 NDT (1.913 USD)/tấn sau khi tăng hơn 5% đầu phiên.Giá cao su trên sàn SICOM của Singapore giao tháng 6 chốt phiên ở mức 147,50 cent Mỹ/kg, tăng 4,6 cent.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

72,24

+0,96

+1,4%

Dầu Brent

USD/thùng

79,22

+0,71

+0,9%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

51.520,00

+70,00

+0,14%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,82

+0,01

+0,25%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

225,85

+0,20

+0,09%

Dầu đốt

US cent/gallon

227,54

+0,16

+0,07%

Dầu khí

USD/tấn

695,75

+3,00

+0,43%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

69.030,00

+120,00

+0,17%

Vàng New York

USD/ounce

1.290,80

-0,10

-0,01%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.597,00

+4,00

+0,09%

Bạc New York

USD/ounce

16,51

-0,01

-0,06%

Bạc TOCOM

JPY/g

58,80

+0,10

+0,17%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

898,35

-2,83

-0,31%

Palladium giao ngay

USD/ounce

990,05

-3,50

-0,35%

Đồng New York

US cent/lb

309,40

-0,45

-0,15%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.879,00

+24,00

+0,35%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.280,00

+10,00

+0,44%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.104,00

+4,50

+0,15%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.700,00

-80,00

-0,38%

Ngô

US cent/bushel

401,75

-1,00

-0,25%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

506,00

-1,25

-0,25%

Lúa mạch

US cent/bushel

245,25

0,00

0,00%

Gạo thô

USD/cwt

12,23

0,00

-0,04%

Đậu tương

US cent/bushel

1.022,50

-2,75

-0,27%

Khô đậu tương

USD/tấn

377,00

-2,10

-0,55%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,43

+0,01

+0,03%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

532,50

+0,10

+0,02%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.615,00

-63,00

-2,35%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

120,20

+2,20

+1,86%

Đường thô

US cent/lb

12,10

+0,44

+3,77%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

167,45

+1,25

+0,75%

Bông

US cent/lb

89,51

+1,09

+1,23%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

609,00

-15,00

-2,40%

Cao su TOCOM

JPY/kg

200,20

+0,20

+0,10%

Ethanol CME

USD/gallon

1,51

+0,00

+0,13%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg