Trên thị trường năng lượng, giá dầu biến động trái chiều trong bối cảnh các nhà đầu tư theo dõi diễn biến của tình hình căng thẳng tại khu vực Trung Đông và triển vọng của thương mại toàn cầu.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao tháng 6/2019 giảm 0,11 USD xuống 62,99 USD/thùng; dầu Brent giao tháng 7/2019 tăng 0,21 USD lên 72,18 USD/thùng.
Tình hình căng thẳng tại khu vực Trung Đông đang là một thách thức đối với sự ổn định của các thị trường dầu thô trên thế giới. Ngày 21/5, sau khi trình bày bản báo cáo tóm tắt trước Quốc hội, quyền Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Patrick Shanahan cho biết chính quyền Mỹ chỉ tìm cách ngăn chặn Iran chứ không muốn khơi mào chiến tranh. Trước đó, Tổng thống Iran Hassan Rouhani cho hay nước này sẽ không bao giờ lùi bước trước sức ép của Mỹ. Cho đến nay, Tổng thống Iran Hassan Rouhani luôn bác bỏ khả năng diễn ra các cuộc đàm phán với Mỹ vì theo ông, tình hình hiện nay "hoàn toàn không phù hợp để tiến hành đàm phán" và người dân Iran cần đoàn kết, kiên định để vượt qua những trừng phạt kinh tế mà Mỹ áp đặt.
Trong khi đó, việc Washington đang nhắm vào Huawei Technologies - “đại gia” ngành công nghệ viễn thông của Trung Quốc - đã khiến căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc “tăng nhiệt”. Đặc biệt sau khi quyết định của Tổng thống Mỹ tăng mức thuế từ 15% lên 25% đối với 200 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc chính thức có hiệu lực từ ngày 10/5, đồng thời Washington đe dọa sẽ "sớm" áp thuế 25% đối với 325 tỷ USD hàng hóa khác của Trung Quốc. Phía Trung Quốc "đáp trả" Mỹ với tuyên bố sẽ áp thuế lên lượng hàng hóa Mỹ trị giá 60 tỷ USD, bắt đầu từ ngày 1/6 tới.
Trước những diễn biến trên, các nhà đầu tư tỏ ra lo ngại tình hình căng thẳng kéo dài giữa Mỹ và các đối tác thương mại lớn của nước này sẽ dẫn tới khả năng kinh tế thế giới giảm tốc và tác động tiêu cực tới nhu cầu sử dụng dầu, cũng như niềm tin của thị trường.
Trong một diễn biến khác, Saudi Arabia và các nước xuất khẩu dầu hàng đầu khác đã “đánh tiếng” về mong muốn gia hạn thỏa thuận cắt giảm sản lượng dầu đang được thực hiện từ đầu tháng 1/2019 đến cuối năm nay.
Giá than cốc Đại Liên tăng cao 5,6% trong phiên vừa qua, lên mức cao nhất 8 tháng là 2.217 CNY/tấn. Giá than luyện cốc tăng 0,9% lên 1.403,5 CNY/tấn.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm xuống mức thấp nhất trong vòng hơn 2 tuần, khi đồng USD mạnh lên trước khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) công bố biên bản cuộc họp mới nhất.
Kết thúc phiên giao dịch, vàng giao ngay giảm 0,3% xuống còn 1.273,70 USD/ounce; trước đó trong cùng phiên, giá vàng đã rơi xuống mức thấp nhất kể từ ngày 3/5 là 1.268,97 USD/ounce. Vàng giao sau giảm 0,3% và khép phiên ở mức 1.273,2 USD/ounce.
Chỉ số đồng USD - được coi là thước đo "sức khỏe" của đồng bạc xanh so với các đồng tiền chủ chốt khác - phiên này tăng 0,1% lên 98,03 (điểm). Đây là mức cao nhất trong gần một tháng qua, do căng thẳng thương mại Mỹ - Trung leo thang và lợi suất trái phiếu chính phủ của Mỹ tăng cao hơn.
Fed dự kiến công bố biên bản cuộc họp đầu tháng Năm vào ngày 22/5 mà theo các chuyên gia sẽ nhấn mạnh rằng họ vẫn "kiên nhẫn" và chưa sẵn sàng thay đổi chính sách tiền tệ sớm.
Trước đó vào ngày 20/5, Chủ tịch Fed Jerome Powell cho hay hiện vẫn còn quá sớm để xác định những tác động của tình hình căng thẳng thương mại và thuế quan đối với chính sách tiền tệ của Fed - Ngân hàng trung ương Mỹ.
Về các kim loại quý khác, giá bạc giảm 0,2% xuống 14,43 USD/ounce, giá bạch kim lùi 0,1% xuống 811 USD/ounce, sau khi trong phiên đã có lúc tụt xuống mức thấp nhất của ba tháng là 801,5 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá thép, quặng sắt đều tăng cao. Giá thép tại Trung Quốc đã tăng gần 4% do các nhà đầu tư dự kiến nhu cầu thép tăng mạnh hơn từ thị trường bất động sản bất chấp cuộc chiến thương mại Mỹ- Trung leo thang.
Giá thanh cốt thép Thượng Hải tăng 3,8% lên 3.919 CNY(566,98 USD)/tấn, cao nhất kể từ tháng 9/2011. Giá thép cuộn cán nóng tăng 3,2% lên 3.765 CNY/tấn. Giá quặng sắt tại Đại Liên tăng 1,3% lên 717 CNY/tấn sau khi tăng lên mức cao kỷ lục trong phiên trước đó. Giá nhà mới trung bình tại 70 thành phố lớn của Trung Quốc tăng 0,6% trong tháng 4 so với tháng trước đó, trong khi đầu tư vào bất động sản tăng 12%.
Cuộc chiến thương mại Trung-Mỹ leo thang sau khi Bộ Thương mại Mỹ tuần trước đã bổ sung công ty viễn thông khổng lồ Huawei của Trung Quốc và 68 công ty khác vào danh sách đen xuất khẩu khiến cho các công ty này gần như không thể mua hàng hóa sản xuất tại Mỹ.
Trên thị trường nông sản, giá đường giảm xuống mức thấp nhất 7 tháng rưỡi, trong khi cà phê đi lên.
Kết thúc phiên giao dịch, đường thô kỳ hạn giao tháng 7/2019 tăng 0,19 UScent tương đương 1,6% lên 11,81 UScent/lb, sau khi có lúc giảm xuống mức thấp nhất 7,5 tháng là 11,36 US cent. Đường trắng giao tháng 8/2019 tăng 3,1 USD tương đương 1% lên 326,30 USD/tấn.
Giá đường thô tăng do hoạt động mua vào diễn ra mạnh mẽ khi đồng real Brazil mạnh lên.
Tuy nhiên, triển vọng giá mặt hàng này sẽ tiếp tục chịu áp lực giảm do tồn trữ trên toàn cầu còn nhiều.
Đối với cà phê, giá arabica giao tháng 7/2019 tăng 3 UScent tương đương 3,3% lên 92,90 UScent/lb, đầu phiên có lúc chạm mức cao nhất 3 tuần là 93,35 UScent. Hợp đồng này đã tăng giá ở 4 trong số 5 phiên giao dịch vừa qua. Giống như đường, giá arabica tăng cũng bởi hoạt động mua vào nhiều do đồng real mạnh lên.
Trong khi đó robusta giao tháng 7/2019 tăng 30 USD tương đương 2,3% lên 1.364 USD/tấn.
Giá ngô kỳ hạn tại Mỹ đã tăng phiên thứ 7 liên tiếp, chạm mức cao nhất trong một năm do mưa lớn kéo dài trong các vùng trồng ngô ảnh hưởng tới hoạt động trồng trọt vụ xuân.
Giá ngô tại Chicago giao tháng 7/2019 chốt phiên tăng 5-1/4 cent đạt 3,94-1/4 USD/bushel sau khi đạt đỉnh 3,99 USD, mức cao nhất kể từ 29/5/2018.
Trong khi đó, giá lúa mì tại Chicago giao tháng 7 chốt phiên tăng 1/2 cent lên 4,78-3/4 USD/bushel sau khi đạt đỉnh 4,92-3/4 USD/bushel, cao nhất kể từ ngày 25/2.
Giá đậu tương đã giảm xuống sau khi có tin Bộ Nông nghiệp Mỹ có thể sẽ sớm công bố gói viện trợ chiến tranh thương mại cho nông dân, có thể thúc đẩy trồng đậu tương và tăng dự trữ lớn. Giá dậu tương kỳ hạn tháng 7 đã giảm 9-3/4 cent xuống còn 8,22 USD/bushel, sau khi có tin nông dân có thể được trả 2 USD/bushel để bù lỗ từ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.
Giá dầu cọ kỳ hạn tại Malaysia đóng cửa giảm gần 2%, rời khỏi mức cao nhất 3 tuần vào phiên sáng do hoạt động bán kỹ thuật và lo ngại sản lượng cao hơn dự kiến. Giá dầu cọ giao tháng 8/2019 trên Sàn giao dịch Bursa Malaysia đã giảm 1,95% xuống còn 2.057 ringgit (491,58 USD)/tấn.
Sản lượng dầu cọ ở Malaysia, nước sản xuất dầu cọ lớn thứ hai thế giới, trong tháng 4 giảm 1,4% so với tháng trước xuống còn 1,65 triệu tấn.
Giá hạt tiêu giao ngay tại sàn Kochi (Ấn Độ) ổn định ở mức 36.350 Rupee/tạ. Giá tiêu giao tháng 5/2019 dao động ở mức 36.566 Rupee/tạ đến 36.900 Rupi/tạ. Giá hạt tiêu trên sàn SMX – Singapore giao tháng 9/2019 không đổi ở mức 6.500 USD/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

62,99

-0,11

-0,17%

Dầu Brent

USD/thùng

71,18

+0,21

 

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

46.020,00

-140,00

-0,30%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,62

+0,01

+0,42%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

200,97

-0,96

-0,48%

Dầu đốt

US cent/gallon

206,92

-1,02

-0,49%

Dầu khí

USD/tấn

642,50

-2,50

-0,39%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

63.280,00

+30,00

+0,05%

Vàng New York

USD/ounce

1.273,90

-0,70

-0,05%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.519,00

+12,00

+0,27%

Bạc New York

USD/ounce

14,42

+0,01

+0,07%

Bạc TOCOM

JPY/g

51,40

+0,30

+0,59%

Bạch kim

USD/ounce

814,60

-2,08

-0,25%

Palađi

USD/ounce

1.320,63

-0,15

-0,01%

Đồng New York

US cent/lb

271,20

-0,30

-0,11%

Đồng LME

USD/tấn

5.996,00

-33,00

-0,55%

Nhôm LME

USD/tấn

1.796,00

-1,50

-0,08%

Kẽm LME

USD/tấn

2.577,00

+2,00

+0,08%

Thiếc LME

USD/tấn

19.475,00

+25,00

+0,13%

Ngô

US cent/bushel

395,50

+1,25

+0,32%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

480,50

+1,75

+0,37%

Lúa mạch

US cent/bushel

312,25

+3,75

+1,22%

Gạo thô

USD/cwt

11,29

-0,02

-0,18%

Đậu tương

US cent/bushel

828,75

+6,75

+0,82%

Khô đậu tương

USD/tấn

296,70

+1,40

+0,47%

Dầu đậu tương

US cent/lb

27,24

+0,10

+0,37%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

444,10

+1,70

+0,38%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.446,00

+59,00

+2,47%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

92,90

+3,00

+3,34%

Đường thô

US cent/lb

11,81

+0,19

+1,64%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

98,00

-2,25

-2,24%

Bông

US cent/lb

67,26

-0,06

-0,09%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

317,90

+4,30

+1,37%

Cao su TOCOM

JPY/kg

192,90

-1,40

-0,72%

Ethanol CME

USD/gallon

1,39

+0,01

+0,87%

Nguồn: Bloomberg, Reuters, CafeF