Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm mạnh trong bối cảnh các nhà đầu tư giữ tâm lý thận trọng trước tình trạng nguồn cung dầu thô dư dôi trên thế giới.
Kết thúc phiên giao dịch, tại thị trường New York, giá dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 9/2016 giảm 1 USD xuống 44,75 USD/thùng, yại London, giá dầu Brent Biển Bắc giao tháng 9/2016 giảm 97 US cent xuống 46,20 USD/thùng.
Chuyên gia Andy Lipow thuộc Lipow Oil Associate cho biết thị trường tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi tình trạng dư cung, trong bối cảnh báo cáo vừa công bố của Bộ Năng lượng Mỹ cho thấy kho dự trữ xăng tại cường quốc này đang có xu hướng đầy lên.
Giá dầu thô dao động trong khoảng 44-52 USD/thùng trong một tháng qua, sau khi để tuột mốc 30 USD/thùng hồi tháng 2/2016.
Sau khi đạt mức đỉnh của năm 2016, giá dầu liên tục chịu áp lực do tình trạng thừa cung sản phẩm lọc dầu. Các nhà máy lọc dầu đã biến tình trạng thừa cung dầu thô toàn cầu thành tình trạng thừa cung xăng và các sản phẩm nhiên liệu khác, theo các nhà phân tích. Cả giá dầu Brent và WTI đều giảm hơn 12% so với mức đỉnh năm 2016 ghi nhận hồi đầu tháng 6 ở mức trên 50 USD/thùng.
Nhiều nhà phân tích dự đoán rằng các nhà máy lọc dầu sẽ giảm lượng dầu thô mua vào trong những tháng tới. Tuy vậy, giới đầu cơ giá lên cũng được an ủi phần nào khi số liệu của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho thấy công suất của các nhà máy lọc dầu tại Mỹ tuần qua tăng gần 1 điểm phần trăm. Tuy nhiên, với việc giá xăng giảm xuống sát với giá dầu thô, biên lợi nhuận sẽ kéo giảm hoạt động của các nhà máy lọc dầu, theo đó, kéo giảm giá dầu thô.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng khi USD và cổ phiếu châu Âu suy yếu sau khi Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) quyết định giữ nguyên lãi suất.
Giá vàng giao ngay đứng ở 1.315,55 USD/ounce, giá vàng giao tháng 8/2016 tăng 0,9% lên 1.331 USD/ounce.
USD - lên cao nhất 4 tháng trong phiên 20/7 - đã giảm 0,2% so với các đồng tiền chủ chốt trong giỏ tiền tệ sau tin Thống đốc Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BOJ) Haruhiko Kuroda bác bỏ việc sử dụng “tiền trực thăng” để thúc đẩy kinh tế Nhật Bản.
ECB tiếp tục duy trì lãi suất ở mức thấp kỷ lục trong một nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và lạm phát với nguồn tín dụng rẻ. ECB cũng cho biết sẽ duy trì mức lãi suất như hiện nay hoặc thấp hơn trong một thời gian dài và sẵn sàng có thêm hành động để thúc đẩy lạm phát và tăng trưởng kinh tế nếu cần thiết.
Trong số các kim loại quý khác, giá bạc giao ngay giảm 0,4% xuống 19,30 USD/ounce, trong khi đó, giá bạch kim tăng 0,4% lên 1.086,2 USD/ounce và giá palladium tăng 0,1% lên 671,95 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê diễn biến trái chiều, robusta tăng khoảng 2-3 USD/tấn tại London nhưng arabica lại giảm 0,05-0,15 cent/lb tại New York.
Tuần này, giá cà phê nhân tươi tại Indonesia giảm xuống thấp hơn so với giá chào bán tại Việt Nam do vụ thu hoạch lên cao điểm đẩy tăng nguồn cung. Trong khi đó, mức cộng thêm cà phê Indonesa cũng thu hẹp sau khi giá tham chiếu trên sàn London tăng vượt mốc 1.800 USD/tấn hồi đầu tháng này, theo giới thương nhân tại Indonesia.
Giá cà phê Robusta được dự đoán duy trì ở mức cao nhất 16 tháng trong vài tháng tới do nguồn cung thắt chặt. Giá có thể ổn định trong những tháng tới khi đồng nội tệ real Brazil đi ngang trong khi viễn cảnh nguồn cung vẫn tốt nhờ sản lượng cà phê khá tốt, theo BMI Research.

Giá hàng hóa thế giới

 

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

44,75

-1

-2,2%

Dầu Brent

USD/thùng

46,20

-0,97

-2,1

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

29.420,00

-1.170,00

-3,82%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,67

-0,03

-1,00%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

135,50

0,00

0,00%

Dầu đốt

US cent/gallon

137,25

+0,18

+0,13%

Dầu khí

USD/tấn

403,00

-5,00

-1,23%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

41.690,00

-1.070,00

-2,50%

Vàng New York

USD/ounce

1.330,60

+0,40

+0,03%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.493,00

-12,00

-0,27%

Bạc New York

USD/ounce

19,94

+0,12

+0,61%

Bạc TOCOM

JPY/g

67,00

+0,80

+1,21%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.102,50

-0,25

-0,02%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

685,37

+0,54

+0,08%

Đồng New York

US cent/lb

226,10

+0,25

+0,11%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

4.976,00

+10,00

+0,20%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.601,00

-24,00

-1,48%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.254,00

+8,00

+0,36%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

17.850,00

+35,00

+0,20%

Ngô

US cent/bushel

341,25

+0,50

+0,15%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

421,00

+3,25

+0,78%

Lúa mạch

US cent/bushel

204,50

+2,50

+1,24%

Gạo thô

USD/cwt

10,61

-0,20

-1,85%

Đậu tương

US cent/bushel

1.011,75

-0,75

-0,07%

Khô đậu tương

USD/tấn

346,80

-0,70

-0,20%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,66

+0,06

+0,19%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

462,50

-0,10

-0,02%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.902,00

-67,00

-2,26%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

146,85

-0,15

-0,10%

Đường thô

US cent/lb

19,56

+0,28

+1,45%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

180,70

-1,60

-0,88%

Bông

US cent/lb

73,13

+0,16

+0,22%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

329,90

+2,30

+0,70%

Cao su TOCOM

JPY/kg

162,70

-1,60

-0,97%

Ethanol CME

USD/gallon

1,45

-0,01

-0,89%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg