Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô dao động nhẹ trước thềm cuộc họp của bộ trưởng các nước trong và ngoài Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) dự kiến diễn ra ngày 22/9.
Đóng cửa phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 11/2017 trên sàn New York giảm 0,14 USD xuống 50,55 USD/thùng; dầu Brent giao cùng kỳ hạn trên sàn London tăng 0,14 USD lên 56,43 USD/thùng.
Bộ trưởng các nước trong và ngoài OPEC sẽ họp tại Vienna (Áo) vào ngày 22/9 và thảo luận về khả năng kéo dài thỏa thuận cắt giảm sản lượng khoảng 1,8 triệu thùng/ngày tổng cộng mà họ đã nhất trí trước đó.
Kế hoạch cắt giảm khai thác giữa OPEC và một số nước xuất khẩu dầu mỏ hàng đầu thế giới ngoài OPEC như Nga, được thực thi kể từ tháng Một và kéo dài tới cuối tháng 3/2018, là một phần trong nỗ lực giảm nguồn dầu dự trữ để hỗ trợ giá "vàng đen".
Trong khi đó, theo Bộ trưởng Dầu mỏ Kuwait Essam al-Marzouq, việc tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng dầu mỏ kể trên là “rất tốt” và trên mức yêu cầu. Nhiều chuyên gia kỳ vọng OPEC sẽ kéo dài thỏa thuận cắt giảm khai thác dầu mỏ, có thể đến cuối năm 2018.
Theo thỏa thuận, các nước này cam kết cắt giảm sản lượng 1,8 triệu thùng/ngày. Tuy nhiên, do các thành viên OPEC là Libya và Nigeria được miễn tham gia thỏa thuận khiến các thị trường vẫn dồi dào nguồn cung, đưa đến những kêu gọi tăng cường hành động. Nhà phân tích thị trường Jeffrey Halley thuộc OANDA cho rằng vẫn có khả năng kéo dài thỏa thuận hoặc cắt giảm mạnh hơn.
Dự trữ dầu thô thương mại của Mỹ tăng tuần thứ ba liên tiếp, với mức tăng 4,6 triệu thùng trong tuần kết thúc ngày 15/9, lên 472,83 triệu thùng. Trong khi đó, sản lượng dầu của Mỹ phục hồi sau cơn bão Harvey, hiện ở mức 9,51 triệu thùng/ngày, tăng so với mức 8,78 triệu thùng/ngày ngay sau cơn bão đổ bộ vào nước này.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm xuống dưới 1.300 USD/ounce, sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) phát đi tín hiệu có thể sẽ nâng tiếp lãi suất trong tháng 12 tới.
Tại New York (Mỹ), giá vàng giao ngay giảm xuống 1.291,46 USD/ounce, trong phiên có lúc giá giảm xuống 1.287,61 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ ngày 25/8; hợp đồng giao tháng 12/2017 đóng phiên ở mức 1.294,80 USD/ounce.
Giá vàng luôn nhạy cảm với các đợt thay đổi lãi suất của Mỹ. Kết thúc cuộc họp kéo dài hai ngày 19-20/9, Fed quyết định giữ nguyên lãi suất nhưng vẫn dự kiến có thể sẽ tăng lãi suất một lần nữa vào cuối năm nay dù lạm phát gần đây yếu. Bên cạnh đó, cơ quan này thông báo bắt đầu từ tháng Mười tới sẽ giảm lượng trái phiếu chính phủ và trái phiếu có bảo đảm bằng thế chấp trị giá khoảng 4.200 tỷ USD mà Fed đang nắm giữ, với lượng cắt giảm ban đầu là 10 tỷ USD mỗi tháng.
Đồng bạc xanh đã chạm mức cao nhất trong hai tháng so với đồng yen, sau tuyên bố của Fed, song sau đó đồng tiền này đã giảm so với đồng euro, khi Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) Mario Draghi phát biểu rằng chính sách tiền tệ không phải là công cụ hiệu quả để giải quyết sự mất cân bằng tài chính tại khu vực đồng euro.
Thống kê cho thấy giá vàng đã giảm hơn 60 USD/ounce kể từ mức đỉnh trong hơn một năm (1.357,54 USD/ounce) đã đạt được hồi đầu tháng này. Nhà phân tích Fawad Razaqzada cho trang Forex.com, nhận định hy vọng duy nhất cho giá vàng hiện nay là sự xuống giá của đồng USD.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 1,1% xuống 16,94 USD/ounce, đầu phiên có lúc rơi xuống 16,80 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ ngày 25/8. Giá bạch kim cũng giảm 0,3% xuống 936,10 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 12 giảm 1,55 US cent tương đương 1,1% xuống 1,35 USD/lb, robusta giao tháng 11 giảm 23 USD cũng tương đương 1,1% xuống 2.012 USD/tấn, trong phiên có lúc giá tăng 2,6% lên mức cao nhất 2 tuần.
Dự báo mưa ở Brazil đã kéo giá cà phê giảm trở lại sau mấy phiên tăng gần đây.
Với mặt hàng đường, đường thô giao tháng 3 giá tăng 0,03 US cent tương đương 0,2% lên 14,73 US cent/lb; đường trắng giao tháng 12 giảm 0,9 USD tương đương 0,2% xuống 370,1 USD/tấn.

Giá hàng hóa thế giới

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

50,55

-0,14

-0,18%

Dầu Brent

USD/thùng

56,43

+0,14

+0,3%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

37.740,00

0,00

0,00%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,96

+0,02

+0,51%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

164,56

+0,18

+0,11%

Dầu đốt

US cent/gallon

181,25

-0,28

-0,15%

Dầu khí

USD/tấn

540,75

-0,50

-0,09%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

52.300,00

-60,00

-0,11%

Vàng New York

USD/ounce

1.298,70

-3,90

-0,30%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.655,00

-22,00

-0,47%

Bạc New York

USD/ounce

17,06

+0,04

+0,25%

Bạc TOCOM

JPY/g

61,40

-0,20

-0,32%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

942,05

+3,64

+0,39%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

916,35

+2,30

+0,25%

Đồng New York

US cent/lb

292,15

-1,30

-0,44%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.480,00

-46,00

-0,70%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.171,00

-6,00

-0,28%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.100,50

-31,50

-1,01%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.450,00

-175,00

-0,85%

Ngô

US cent/bushel

350,50

+0,25

+0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

453,50

+1,00

+0,22%

Lúa mạch

US cent/bushel

250,50

+0,50

+0,20%

Gạo thô

USD/cwt

12,73

+0,02

+0,16%

Đậu tương

US cent/bushel

974,50

+3,75

+0,39%

Khô đậu tương

USD/tấn

314,50

+1,60

+0,51%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,37

+0,03

+0,09%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

491,30

-0,80

-0,16%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.021,00

+23,00

+1,15%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

135,00

-1,55

-1,14%

Đường thô

US cent/lb

14,73

+0,03

+0,20%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

152,25

-2,45

-1,58%

Bông

US cent/lb

68,25

0,00

0,00%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

388,40

-1,60

-0,41%

Cao su TOCOM

JPY/kg

212,30

+2,10

+1,00%

Ethanol CME

USD/gallon

1,47

-0,02

-1,14%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg