Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm sau báo cáo cho biết trữ dầu của Mỹ tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 12/2017 làm gia tăng lo ngại về tình trạng thừa cung trên toàn cầu, mặc dù Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) sắp thảo luận về việc cắt giảm sản lượng.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ (WTI) giảm 78 US cent xuống 53,85 USD/thùng, trong phiên có lúc giảm hơn 1 USD; dầu Brent Biển Bắc cũng giảm 96 US cent, xuống 62,52 USD/thùng.
Biên độ dao động giá dầu trong phiên vừa qua hẹp, lượng giao dịch cũng không nhiều vì Mỹ nghỉ Lễ Tạ ơn. Đồng USD yếu góp phần hạn chế đà giảm giá dầu.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) vừa công bố báo cáo cho hay dự trữ dầu thô của nước này trong tuần kết thúc ngày 16/11/2018 tăng 4,9 triệu thùng, lên 446,91 triệu thùng, cao nhất kể từ tháng 12/2017. Sản lượng dầu của Mỹ hiện cũng ở mức cao kỷ lục 11,7 triệu thùng/ngày.
Tháng 11/2018, xuất khẩu dầu của Iran đã sụt giảm hàng trăm nghìn thùng do tác động bởi lệnh trừng phạt của Mỹ, góp phần thu hẹp nguồn cung dầu toàn cầu. Trông khi đó, nhập khẩu dầu thô của Ấn Độ trong tháng 10/2018 đã tăng lên mức cao nhất trong vòng 7 năm qua, đạt 21,02 triệu tấn và bằng với mức của tháng 4/2011. Theo báo cáo của Cục Kế hoạch và Phân tích Dầu khí (PPAC) thuộc Bộ Dầu mỏ Ấn Độ, nhập khẩu dầu thô trong tháng 10/2018 của nước này tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước. Lý do bởi nhiều nhà máy lọc dầu tiếp tục mua hàng sau khi kết thúc hoạt động bảo trì. Cũng trong tháng 10/2018 nhập khẩu dầu của Ấn Độ từ Iran giảm khoảng 12% xuống khoảng 466.000 thùng/ngày. OPEC dự báo nhu cầu dầu mỏ của Ấn Độ sẽ tăng 5,8 triệu thùng/ngày vào năm 2040, chiếm khoảng 40% tổng nhu cầu dầu mỏ thế giới ở thời điểm đó.
Dự kiến tại cuộc họp ngày 6/12 tới, OPEC và các nước sản xuất dầu mỏ chủ chốt sẽ thảo luận về việc tiếp tục cắt giảm sản lượng, bất chấp áp lực từ phía Mỹ.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tiếp tục tăng lên mức cao nhất trong hai tuần qua do đồng USD suy yếu trước những nghi ngại về tốc độ các đợt nâng lãi suất của Mỹ trong tương lai. Vàng giao giao ngay tăng 0,1% lên 1.226,70 USD/ounce, gần mức cao nhất kể từ ngày 7/11/2018 là 1.230,07 USD/ounce ghi nhận trong phiên trước; vàng giao sau vững ở 1.228 USD/ounce.
Chiến lược gia Matthew Turner thuộc công ty Macquarie cho rằng thị trường vàng phiên này tăng bởi đồn đoán Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ chấm dứt chuỗi nâng lãi suất của mình sớm hơn dự đoán.
Chỉ số đồng USD đo sức mạnh của “đồng bạc xanh” so với rổ các đồng tiền chủ chốt giảm 0,2%, trong khi đồng euro khởi sắc trước những dấu hiệu tích cực trong việc đạt được thỏa thuận về mối quan hệ tương lai giữa nước Anh và Liên minh châu Âu (EU). Đồng USD suy yếu khiến vàng trở nên hấp dẫn hơn đối với người mua nắm giữ các đồng tiền khác.
Fed được dự đoán sẽ thực hiện đợt nâng lãi suất lần thứ tư trong năm 2018 vào tháng 12 tới, nhưng giới đầu tư vẫn chưa đoán được ngân hàng trung ương này sẽ tiến hành bao nhiêu lần nâng lãi suất vào năm sau mà không có nguy cơ khiến kinh tế Mỹ tăng trưởng chậm lại.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 0,2% xuống còn 14,46 USD/ounce, trong khi giá bạch kim tăng 0,4% lên 843,70 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá kẽm giao kỳ hạn gần tiếp tục tăng do thiếu cung triền miên trong thời gian gần đây. Cchênh lệch giữa hợp đồng giao ngay với giao sau 3 tháng trên sàn London (LME) phiên vừa qua đạt mức cao nhất 21 năm (97 USD/tấn, so với 90 USD/tấn của phiên trước). Hợp đồng kẽm giao sau 3 tháng tăng 0,6% trong phiên vừa qua, lên 2.582 USD/tấn, và tăng 3,6% trong tháng này. Dự trữ kẽm tại các kho của LME đã giảm một nửa kể từ giữa tháng 8 tới nay, hiện chỉ còn 123.500 tấn.
Giá đồng vững trong phiên vừa qua vì USD giảm hỗ trợ xu hướng giá đi lên nhưng lo ngại về căng thẳng thương mại Mỹ - Trung có thể làm giảm nhu cầu của Trung Quốc lại gây áp lực giảm. Đồng giao sau 3 tháng nhích nhẹ 0,3% lên 6.255 USD/tấn, nhưng so với đầu tháng, giá hiện cao hơn 4,3%.
Mức kháng cự của cả kẽm và đồng đều là mức cao nhất trong tháng 11 (kẽm là 2.647 USD/tấn, còn đồng là 6.315 USD/tấn).
Giá thép xây dựng tại Trung Quốc hồi phục sau 8 phiên giảm liên tiếp trước đó. Lý do bởi sản xuất bị gián đoạn do cảnh báo về mức độ ô nhiễm tại khu vực sản xuất thép hàng đầu nước này. Thép cây hợp đồng tham chiếu trên sàn Thượng Hải tăng 1,3% lên 3.729 CNY (538,2 USD)/tấn. Hợp đồng này đã xuống mức thấp nhất 4 tháng trong phiên 21/11/2018.
Tỉnh Hà Bắc ở miền Bắc Trung Quốc ngày 22/11 đã phát đi cảnh báo ô nhiễm mức độ 2 ở 10 thành phố, buộc ngành thép phải thực hiện các biện pháp khẩn cấp, trong đó có việc cắt giảm sản xuất và hạn chế vận chuyển nguyên vật liệu.
Tuy nhiên, các nhà phân tích thuộc CITIC Futures nhận định: "Giá thép sẽ vẫn duy trì ở mức thấp, mặc dù được hỗ trợ phần nào bởi nhu cầu mua tích trữ từ phía các thương gia nếu giá giảm thêm nữa". Sản lượng thép thô trung bình ngày của các thành viên Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc đạt 1,92 triệu tấn trong giai đoạn 1-10/11/2018, tăng 0,6% so với 20-31/10/2018.
Trên thị trường nông sản, giá lúa mì trên thị trường châu Âu vừa tăng lên mức cao nhất trong vòng 1 tuần sau khi Ai Cập mở thầu mua làm tăng hy vọng trong thời gian tới khách hàng sẽ không chỉ tập trung mua lúa mì Nga mà còn mua của các nguồn cung khác. Ngoài ra, thông tin về chuyến lúa mì Pháp xuất khẩu sang Trung Quốc ngoài dự đoán cũng góp phần đẩy giá tăng lên.
Hợp đồng giao tháng 3/2019 trên sàn Euronext (ở Paris) tăng 1,75 EUR tương đương 0,9% lên 204,25 EUR/tấn vào lúc đóng cửa phiên giao dịch, sau khi có lúc đạt 204,5 EUR, mức cao nhất kể từ 15/11. Mỹ nghỉ Lễ Tạ ơn cũng khiến khách hàng chuyển hướng sang thị trường châu Âu.
Ai Cập, nước nhập khẩu lúa mì lớn nhất thế giới, đã mua 120.000 tấn lúa mì Mỹ trong phiên đấu thầu vào ngày 22/11, trong đó mua 60.000 tấn lúa mì Nga và 60.000 tấn lúa mì Romania.
Cà phê robusta trên sàn London giảm 6 USD tương đương 0,4% xuống 1.609 USD/tấn. Thị trường tiếp tục tập trung vào các yếu tố cơ bản, trong bối cảnh có nhiều dấu hiệu cho thấy nguồn cung năm nay tăng lên. Trong khi đó tại châu Á, giá cà phê ở Việt Nam tiếp tục giảm theo xu hướng giá quốc tế và do nguồn cung tăng khi đang vụ thu hoạch, trong khi đó mức cộng cà phê Indonesia so với giá tại London tiếp tục tăng do dự trữ cạn kiệt.
Nông dân ở Tây Nguyên chào bán cà phê nhân xô giá 35.300 đồng (1,51 USD)/kg, giảm so với 36.200 – 36.300 đồng cách đây một tuần. Cà phê robusta loại 2 (5% đen & vỡ) được chào bán với giá trừ lùi 45 – 65 USD/tấn so với giá tại London, giảm so với mức trừ lùi 70 USD/tấn cách đây một tuần (hợp đồng giao tháng 1/2019).
Vụ thu hoạch cà phê ở Việt Nam đã xong khoảng 40%, việc thu hoạch sẽ tiếp diễn tới cuối tháng 12. Theo các thương gia, sản lượng niên vụ 2018/19 dự báo đạt 30 triệu bao (1 bao=60 kg), tương tự như vụ trước và cao hơn mức dự báo ban đầu là 27 triệu bao.
Tại Indonesia, mức cộng giá robusta tại Lampung (Sumatra) tăng lên 50 USD/tấn (kỳ hạn tháng 1 năm tới), so với 30 USD/tấn cách đây một tuần, vì trong kho gần như không còn hàng.
Giá cao su tại Tokyo chấm dứt chuỗi 5 phiên giảm liên tiếp khi các nhà đầu tư tăng mua trước kỳ nghỉ 3 ngày (các thị trường tài chính Nhật sẽ đóng cửa nghỉ Lễ trong ngày 23/11).
Hợp đồng giao tháng 4 năm sau trên sàn Tokyo tăng 1,8 JPY tương đương 1,2% lên 154,7 JPY (1,37 USD)/kg. Giá tại Thượng Hải cũng tăng 50 CNY lên 10.785 CNY (1.555 USD)/tấn.
Thái Lan vào đầu tuần này đã thông qua gói trợ cấp mới và các biện pháp khác để giúp người trồng cao su vượt qua khó khăn sau khi giá mặt hàng này giảm 40% trong 2 năm qua. Indonesia cũng đang có kế hoạch trồng lại nhiều diện tích cao su.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,99

-0,64

-1,17%

Dầu Brent

USD/thùng

62,60

-0,88

-1,39%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

43.450,00

-200,00

-0,46%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

4,26

-0,19

-4,34%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

149,25

-1,82

-1,20%

Dầu đốt

US cent/gallon

196,32

-0,70

-0,36%

Dầu khí

USD/tấn

598,25

-7,75

-1,28%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

60.050,00

-780,00

-1,28%

Vàng New York

USD/ounce

1.227,60

-0,40

-0,03%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.443,00

-5,00

-0,11%

Bạc New York

USD/ounce

14,47

-0,04

-0,26%

Bạc TOCOM

JPY/g

52,60

-0,10

-0,19%

Bạch kim

USD/ounce

849,41

+1,93

+0,23%

Palađi

USD/ounce

1.156,57

+1,37

+0,12%

Đồng New York

US cent/lb

281,25

+0,45

+0,16%

Đồng LME

USD/tấn

6.235,00

+51,00

+0,82%

Nhôm LME

USD/tấn

1.953,50

+13,50

+0,70%

Kẽm LME

USD/tấn

2.568,00

+17,00

+0,67%

Thiếc LME

USD/tấn

19.240,00

-160,00

-0,82%

Ngô

US cent/bushel

372,75

+0,50

+0,13%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

506,75

-1,75

-0,34%

Lúa mạch

US cent/bushel

294,50

-9,00

-2,97%

Gạo thô

USD/cwt

10,79

+0,05

+0,47%

Đậu tương

US cent/bushel

883,00

+2,00

+0,23%

Khô đậu tương

USD/tấn

308,70

-0,50

-0,16%

Dầu đậu tương

US cent/lb

27,99

+0,47

+1,71%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

476,40

-2,60

-0,54%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.145,00

-45,00

-2,05%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

114,10

-0,80

-0,70%

Đường thô

US cent/lb

12,68

+0,22

+1,77%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

140,20

+1,00

+0,72%

Bông

US cent/lb

78,78

+1,35

+1,74%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

365,70

+9,70

+2,72%

Cao su TOCOM

JPY/kg

155,00

+0,30

+0,19%

Ethanol CME

USD/gallon

1,28

+0,03

+2,32%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg