Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm khoảng 2% do lo ngại về tình hình kinh tế thế giới không mấy lạc quan có thể tác động tới nhu cầu nhiên liệu.
Kết thúc phiên, dầu Brent Biển Bắc giảm 1,24 USD (2%) xuống 61,5 USD/thùng; dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giảm 1,23 USD (1,9%) xuống 52,57 USD/thùng.
Việc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu trong năm 2019 cùng những dấu hiệu suy giảm từ kinh tế Trung Quốc gây áp lực lên giá dầu thô, trong khi các thương nhân lo lắng về việc nguồn cung tăng mạnh trong năm nay bất chấp giá dầu thấp hơn.
Giám đốc nghiên cứu thị trường Gene McGillian thuộc công ty tư vấn đầu tư Tradition Energy cho biết, những diễn biến này đã khơi gợi lại mối quan ngại về triển vọng nhu cầu năng lượng giữa thời điểm nguồn cung đang dư dôi. Câu hỏi được đưa ra ở đây là liệu những nỗi sợ hãi này sẽ có tác động lớn hơn đến thị trường dầu mỏ hay không.
Tại Mỹ, nơi các mỏ khai thác dầu đá phiến đã bùng nổ số lượng và hoạt động trong năm qua, số liệu chính thức mới nhất cho thấy sản lượng dầu thô của quốc gia này đạt mức kỷ lục 11,9 triệu thùng/ngày.
Trong khi đó, giới đầu tư đang lo ngại về kế hoạch cắt giảm sản lượng mà Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và Nga đang thực hiện sẽ không hiệu quả như dự kiến khi Moskva tỏ ra không mấy “nhiệt tình” với việc hạ sản lượng.
Bộ trưởng Năng lượng Nga Alexander Novak cho biết sản lượng khai thác dầu của nước này trong tháng 1/2019 đã giảm hơn 30.000 thùng/ngày so với mức của tháng 10/2018. Trước đó, Nga đã cam kết cắt giảm 230.000 thùng dầu/ngày trong ba tháng đầu năm 2019.
Ngày 10/1, Tập đoàn năng lượng Aker của Na Uy thông báo phát hiện một mỏ dầu có trữ lượng lớn ở ngoài khơi Ghana mà chính phủ nước này cho rằng có thể làm thay đổi nền kinh tế đất nước. Aker cho biết mỏ dầu được tìm thấy ở mỏ Pecan, cách thành phố Takaradi 166 km, và có trữ lượng ước tính lên tới 450-550 triệu thùng. Tổng trữ lượng của mỏ dầu này có thể sẽ tăng lên 600-1.000 triệu thùng sau khi Aker tiến hành thêm các hoạt động thăm dò.
Chính phủ Ghana cho biết việc tìm thấy mỏ dầu này là tin tốt lành có thể mang đến một triển vọng mới cho nền kinh tế và là nguồn tài trợ cho các dự án xã hội trong tương lai.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng nhẹ trong bối cảnh các nhà đầu tư hướng tới các tài sản an toàn, trong đó có vàng, và đồng USD giảm giá.
Kết thúc phiên giao dịch, vàng giao ngay tăng 0,4% lên 1.284,54 USD/ounce, hồi phục khỏi mức thấp nhất kể từ ngày 28/12/2018 (1.276,31 USD/ounce); vàng giao sau tăng 0,1% lên 1.283,4 USD/ounce.
Chỉ số đồng USD, thước đo giá trị đồng USD so với một giỏ gồm 6 đồng tiền chủ chốt khác, giảm 0,08% xuống còn 96,24 (điểm). Vàng thường biến động ngược chiều với đồng USD, có nghĩa khi đồng USD tăng giá thì giá vàng sẽ giảm và ngược lại. Trên thị trường chứng khoán Phố Wall (Mỹ), chỉ số công nghiệp Dow Jones giảm 397,63 điểm, tương đương 1,61% trong khi chỉ số tổng hợp S&P 500 và chỉ số công nghệ Nasdaq cũng giảm điểm. Khi thị trường chứng khoán đi xuống thì các nhà đầu tư có thể bắt đầu mua các tài sản an toàn như vàng.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao tháng 3/2019 giảm 0,48% xuống còn 15,325 USD/ounce. Trong khi đó, giá bạch kim giao tháng 4/2019 giảm 1,36% xuống mức 791,20 USD/ounce vào lúc đóng cửa.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nhôm đạt mức cao nhất gần 1 tháng, khi các nhà đầu tư chuyển sự tập trung từ nền kinh tế Trung Quốc suy yếu sang nguồn cung thắt chặt. Thị trường giao dịch trầm lắng trước kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, khi Trung Quốc – nước sản xuất nhôm lớn nhất thế giới – sẽ đóng cửa 1 tuần.
Giá nhôm giao sau 3 tháng trên sàn London tăng 1,7% lên 1.883 USD/tấn, cao nhất kể từ cuối tháng 12/2018.
Giá đồng kết thúc phiên giảm 0,8% xuống 5.935 USD/tấn, do chứng khoán toàn cầu giảm sau khi IMF cảnh báo triển vọng tăng trưởng suy yếu và công ty khai thác mỏ toàn cầu BHP Group nâng dự báo sản lượng đồng năm 2019 lên 1,6 triệu tấn đến 1,7 triệu tấn.
Giá thép cây tại Trung Quốc giảm, rời khỏi chuỗi tăng 3 phiên liên tiếp, do các dấu hiệu cho thấy rằng tăng trưởng trên thị trường bất động sản tại nước này giảm, đã hạn chế nhu cầu thép trong xây dựng.
Giá thép cây kỳ hạn trên sàn Thượng Hải giảm 0,4% xuống 3.633 CNY (533,97 USD)/tấn, và giá quặng sắt kỳ hạn trên sàn Đại Liên giảm 1,3% xuống 526 CNY/tấn, trong khi đó giá thép cuộn cán nóng tăng 0,8% lên 3.546 CNY/tấn.
Cơ quan Thống kê Quốc gia cho biết, tăng trưởng thị trường bất động sản của Trung Quốc trong quý 4/2018 giảm xuống 2% so với 4,1% quý trước đó, khi chính phủ đưa ra các biện pháp thắt chặt nhằm hạn chế đầu cơ và tăng giá làm giảm nhu cầu.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2019 giảm 0,1 US cent tương đương 1% xuống 12,93 US cent/lb, chịu áp lực giảm bởi giá dầu thô suy giảm và lo ngại nền kinh tế vĩ mô. Và giá đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 6,1 USD tương đương 1,7% xuống 348,6 USD/tấn.
Giá cà phê giảm theo xu hướng giá các hàng hóa khác. Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 3/2019 giảm 1,6 US cent tương đương 1,5% xuống 1,0335 USD/lb, và giá cà phê robusta giao cùng kỳ hạn giảm 22 USD tương đương 1% xuống 1.516 USD/tấn.
Giá ca cao giảm xuống mức thấp nhất 1 tháng, do mưa tại Ivory Coast đã cải thiện năng suất cây trồng. Giá ca cao kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn New York giảm 59 USD tương đương 2,5% xuống 2.281 USD/tấn, trong phiên có lúc chạm 2.266 USD/tấn, thấp nhất kể từ ngày 21/12/2018. Đồng thời, giá ca cao giao cùng kỳ hạn trên sàn London giảm 33 GBP tương đương 2% xuống 1.650 GBP/tấn, trong phiên có lúc chạm 1.640 GBP/tấn, thấp nhất 6 tuần.
Giá cao su tại Tokyo giảm gần 4% từ mức cao nhất gần 8 tháng, trong bối cảnh bi quan tăng trưởng toàn cầu và dấu hiệu suy thoái kinh tế tại Trung Quốc.
Giá cao su kỳ hạn tháng 6/2019 giảm 7,7 JPY tương đương 3,9% xuống 183,6 JPY (1,68 USD)/kg và giá cao su kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn TOCOM giảm 2,8% xuống 153,6 JPY/kg. Đồng thời, giá cao su kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Thượng Hải giảm 240 CNY xuống 11.580 CNY (1.710 USD)/tấn.
Satoru Yoshida, nhà phân tích hàng hóa thuộc Rakuten Securities cho biết: "Triển vọng kinh tế Trung Quốc suy yếu và IMF giảm dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu ảnh hưởng đến tâm lý các nhà đầu tư".
Trong nỗ lực thu hút nhiều nhà đầu tư vào lĩnh vực này, Bộ Nông nghiệp Campuchia đang nghiên cứu đề xuất giảm thuế đối với xuất khẩu cao su, nhằm xoa dịu những người trong ngành cao su, vốn trong nhiều năm đã yêu cầu chính phủ giảm thuế để giảm chi phí sản xuất. Một trong các phương án là các lô hàng có giá trị dưới 2.000 USD mỗi tấn không nên bị đánh thuế.
Hiện tại, chính phủ đánh thuế 50 USD lên mỗi tấn cao su xuất khẩu nếu nó có giá từ 1.000 đến 2.000 USD/tấn. Theo đó, nếu giá trị vượt quá 2.000 USD/tấn thì thuế suất sẽ tăng lên 100 USD. Các lô hàng cao su có giá trị dưới 1.000 USD/tấn không bị đánh thuế. Đề xuất này sẽ được đệ trình lên Thủ tướng Hun Sen trong tương lai gần.
Số liệu từ Bộ Nông nghiệp cho thấy, từ tháng 1 đến tháng 10/2018, xuất khẩu cao su của Campuchia lên tới 161.527 tấn, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2017.
Theo Hiệp hội các nước sản xuất cao su tự nhiên (ANRPC), tiêu thụ cao su tự nhiên trên toàn cầu dự kiến tăng 4,2% trong năm 2019, đạt 14,59 triệu tấn, thấp hơn mức tăng 5,2% của năm 2018. Tiêu thụ cao su tự nhiên tại Trung Quốc, nơi chiếm 40% tỉ trọng tiêu thụ cao su toàn thế giới, dự báo chỉ tăng trưởng 3,2% trong năm 2019 lên 5,85 triệu tấn, thấp hơn mức 5,3% của năm ngoái. Tại Ấn Độ, tiêu thụ dự báo tăng 4% trong năm 2019 giảm tốc nhiều so với vức 12,6% của năm 2018.
Sản lượng cao su thế giới năm 2019 ước tính đạt 14,84 triệu tấn, gần cân bằng với mức tiêu thụ. Năng suất cao su trung bình trên mỗi ha có thể vẫn giữ nguyên như năm 2018.
Dự báo cung - cầu cao su năm 2019 gần cân bằng, nhưng thị trường vẫn chưa thoát hẳn khỏi áp lực dư cung trong trường hợp giá phục hồi đến mức hấp dẫn, sản lượng của nhiều nước sẽ tăng so với dự kiến. Theo đó, sản lượng cao su Thái Lan năm 2019 có thể cao hơn 14% so với dự báo; Malaysia có thể tăng 53% và Ấn Độ có thể tăng 65%.
Giá dầu cọ tại Malaysia tăng lên mức cao nhất hơn 3 tháng, được hỗ trợ bởi dự báo giá tăng tại hội nghị ngành công nghiệp vào cuối tuần qua và giá dầu đậu tương Mỹ tăng mạnh.
Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 4/2019 trên sàn Bursa tăng 1,5% lên 2.259 ringgit (546,97 USD)/tấn, cao nhất kể từ ngày 17/10/2018. Các nhà phân tích dự báo, giá dầu cọ sẽ tăng trong những tháng tới, do sản lượng và dự trữ giảm cùng với xu hướng thời vụ. Nhà phân tích James Fry dự báo giá dầu cọ sẽ tăng 50-100 USD/tấn vào tháng 6/2019, trong khi Dorab Mistry dự báo giá dầu cọ sẽ tăng lên 2.400 ringgit/tấn vào cuối tháng 3/2019. Nhà phân tích Thomas Mielke dự báo giá dầu cọ Indonesia sẽ tăng lên mức cao 600 USD/tấn, trong bối cảnh nhu cầu từ ngành thực phẩm và năng lượng gia tăng, tăng trưởng sản xuất chậm lại và dự trữ toàn cầu suy giảm. Người đứng đầu LMC International tại Đông Nam Á, bà Julian McGill cho biết giá dầu cọ thô được sự báo lên đến 2.200 - 2.300 ringgit/tấn vào tháng 6 vì dự trữ giảm theo mùa.
Giá dầu cọ đã xuống mức thấp nhất trong ba năm vào tháng 11 và tháng 12/2018 trong bối cảnh lượng hàng tồn kho cao và nhu cầu yếu. Giá dầu cọ đã tăng 1,1% lên 2.223 ringgit/tấn (tương đương 540,88 USD/tấn) trong phiên giao dịch tối ngày 18/1/2019.
Dự trữ dầu cọ tại Indonesia, nhà sản xuất hàng đầu thế giới, đạt 3,9 triệu tấn trong tháng 11/2018 và lên chạm đỉnh gần 5 triệu tấn hồi tháng 7/2018. Còn nhà sản xuất lớn thứ hai, Malaysia, ghi nhận tồn kho dầu co lên cao kỉ lục ở mức 3,2 triệu tấn trong tháng 12/2018.
Trong nỗ lực thúc đẩy tiêu thụ dầu cọ, Indonesia đã tăng qui định đối với dầu diesel sinh học trong năm ngoái để yêu cầu tất cả nhiên liệu diesel được sử dụng trên toàn quốc phải chứa dầu diesel sinh học từ đầu tháng 9/2018.
Giá bông giảm trong phiên vừa qua do lo ngại cuộc đàm phán thương mại Mỹ - Trung không tiến triển tốt. Bông giao tháng 3 trên sàn New York giảm 0,76 US cent tương đương 1,03% xuống 73,13 US cent/lb.
Trung Quốc đang đầu tư vào trồng bông ở Campuchia. Đại diện công ty Giang Tô Lianfa đang thử nghiệm trồng cây bông ở miền Tây tỉnh Pursat. Nếu kết quả đạt yêu cầu, công ty sẽ bắt đầu trồng bông trên 180 ha đất. Bông được thu hoạch tại các nông trường này sẽ được công ty xử lý và cung cấp cho các nhà máy dệt trên toàn thế giới, bao gồm hai nhà máy ở Pursat - Jincheng và Nhà máy may Hengyu.
Đối với thịt lợn, sản lượng thịt lợn năm 2018 của Trung Quốc giảm 0,9% so với năm trước đó xuống 54,04 triệu tấn. Con số này khiến các chuyên gia phân tích, trước đó sự báo một sự gia tăng vì người chăn nuôi thanh lý đàn heo trong bối cảnh dịch tả heo châu Phi bùng phát, phải bất ngờ. Sản lượng thịt lợn tại Trung Quốc đã tăng nhẹ trong ba quí đầu tiên của năm 2018, và khối lượng giết mổ cao trong quí cuối cùng vì người chăn nuôi cố gắng thu lời trước khi đàn heo bị nhiễm dịch bệnh lây lan nhanh chưa từng thấy và trước khi giá xuống sâu hơn nữa là nguyên nhân khiến các chuyên gia dự báo sản lượng hàng năm tăng.
Sản lượng thịt lợn của Trung Quốc được theo dõi sát sao vì nhà tiêu thụ thịt hàng đầu thế giới đang phải đối đầu với dịch ASF, đã được phát hiện tại 25 tỉnh và thành phố, dấy lên dự báo về nhu cầu gia tăng đối với thịt lợn và sản phẩm thịt lợn nhập khẩu.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

52,57

-1,23

-2,29%

Dầu Brent

USD/thùng

61,5

-1,24

-2%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.820,00

-120,00

-0,29%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,07

+0,03

+1,12%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

139,85

-0,30

-0,21%

Dầu đốt

US cent/gallon

189,42

-0,69

-0,36%

Dầu khí

USD/tấn

572,50

+6,75

+1,19%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57.300,00

+250,00

+0,44%

Vàng New York

USD/ounce

1.284,00

+0,60

+0,05%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.515,00

+18,00

+0,40%

Bạc New York

USD/ounce

15,37

+0,04

+0,26%

Bạc TOCOM

JPY/g

53,70

0,00

0,00%

Bạch kim

USD/ounce

791,35

+0,31

+0,04%

Palađi

USD/ounce

1.344,45

-4,78

-0,35%

Đồng New York

US cent/lb

266,60

+0,65

+0,24%

Đồng LME

USD/tấn

5.935,00

-46,00

-0,77%

Nhôm LME

USD/tấn

1.883,00

+31,00

+1,67%

Kẽm LME

USD/tấn

2.576,00

-12,00

-0,46%

Thiếc LME

USD/tấn

20.425,00

-225,00

-1,09%

Ngô

US cent/bushel

379,75

+0,75

+0,20%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

523,00

+1,75

+0,34%

Lúa mạch

US cent/bushel

294,25

-2,75

-0,93%

Gạo thô

USD/cwt

10,68

+0,03

+0,23%

Đậu tương

US cent/bushel

912,75

+3,50

+0,38%

Khô đậu tương

USD/tấn

313,60

+0,60

+0,19%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,14

+0,08

+0,28%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

485,50

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.246,00

-61,00

-2,64%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

103,35

-1,60

-1,52%

Đường thô

US cent/lb

12,93

-0,10

-0,77%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

119,20

-0,65

-0,54%

Bông

US cent/lb

73,13

-0,76

-1,03%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

363,40

+8,50

+2,40%

Cao su TOCOM

JPY/kg

182,60

-1,00

-0,54%

Ethanol CME

USD/gallon

1,27

-0,01

-0,63%

Nguồn: VITIC/Bloomberg. Reuters. CafeF