Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô sụt giảm do lo ngại dự trữ dầu của Mỹ tiếp tục tăng.
Tại thị trường New York, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 4/2017 giảm 0,74 USD xuống 53,59 USD/thùng, trong khi tại London, giá dầu thô Brent giao cùng kỳ hạn giảm 0,82 USD xuống 55,84 USD/thùng tại London.
Các nhà phân tích ước tính dự trữ dầu thô của Mỹ có thể tăng khoảng 3,3 triệu thùng vào tuần trước, và là tuần tăng thứ bảy liên tiếp.
Chiến lược gia hàng đầu về thị trường Michael McCarthy thuộc CMC Markets tại Sydney cho biết các nhà đầu tư sẽ lấy báo cáo hàng tuần về dự trữ xăng, dầu của Bộ Năng lượng Mỹ - dự kiến được công bố vào ngày 23/2 - làm căn cứ giao dịch.
Trong một thông tin có liên quan, Nga đang đẩy mạnh xuất khẩu dầu mỏ sang các nước châu Á, trong đó có Hàn Quốc và Trung Quốc. Tính đến hết năm 2016, Nga đã vượt Saudi Arabia để trở thành nhà xuất khẩu nhiều dầu mỏ nhất vào quốc gia tiêu thụ hàng đầu thế giới là Trung Quốc.
Giới quan sát nhận định rằng xuất khẩu dầu của Nga sang châu Á gia tăng liên quan đến việc các nhà xuất khẩu truyền thống ở Trung Đông thu hẹp nguồn cung, sau khi giảm khai thác theo thỏa thuận mà Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các nhà sản xuất bên ngoài OPEC đạt được cuối năm ngoái.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng trở lại do USD giảm sau khi biên bản cuộc họp ngày 31/1-1/2 của Fed vừa được công bố cho thấy "tâm lý e dè" của các quan chức Fed về chương trình kinh tế của tân Chính phủ Mỹ.
Giá vàng giao ngay tăng 0,1% lên 1.237,48 USD/ounce.
Theo nhận định của ông Tai Wong, Giám đốc bộ phận kinh doanh kim loại quý và kim loại cơ bản của BMO Capital Markets tại New York, giá vàng tăng sau khi biên bản cuộc họp mới nhất của Fed cho thấy các quan chức "khá thoải mái" về việc có nhiều thời gian để phản ứng với sức ép lạm phát.
Chuyên gia phân tích Robin Bhar thuộc Societe Generale nhận định: trước sự thiếu chắc chắn về tình hình chính trị tại nhiều nước, các nhà đầu tư vẫn sẽ đổ tiền vào vàng như một nơi trú ẩn an toàn trong thời kỳ bất ổn.
Trên thị trường kim loại cơ bản, giá đồng giảm mặc dù vẫn lo ngại về nguồn cung. Đồng giao sau 3 tháng trên sàn London giảm 0,8% xuống 6.012 USD/tấn, từ mức cao nhất 21 tháng là 6.200 tấn đạt được trong tháng này.
Thị trường nickel cũng đang nóng lên do lo ngại về nguồn cung không chỉ từ Philippines mà cả Indonesia. Tuần này có lúc nickel lên mức cao nhất 2 tháng là 11.165 USD/tấn. Tuy nhiên đóng cửa phiên vừa qua, nickel cũng giảm nhẹ 0,3% xuống 10.825 USD/tấn.
Với nông sản, cà phê robusta giảm giá sau khi Brazil công bố tạm dừng kế hoạch nhập khẩu. Robusta do đó đã giảm 20 USD hay 0,91% xuống 2.169 USD/tấn.
TTXVN đưa tin, ngày 22/2, Tổng thống Brazil Michel Temer đã đình chỉ tạm thời quyết định cho phép nhập khẩu càphê vối robusta vừa được thông báo hôm 20/2 bởi tình trạng khan hiếm nghiêm trọng mặt hàng này tại Brazil, sau ba năm hạn hán liên tục ảnh hưởng đáng kể tới sản lượng thu hoạch.
Thông cáo của Văn phòng Phủ Tổng thống cho biết quyết định đình chỉ tạm thời nói trên được đưa ra ngay sau cuộc họp chiều ngày 21/2 với sự tham gia của hàng chục nghị sỹ, lãnh đạo ngành càphê cùng với Chánh văn phòng Nội các Antonio Imbassahy để đánh giá lại tình hình sản xuất mặt hàng này trong nước.
Trước đó, cách đây ít ngày, Bộ Nông nghiệp Brazil đã đăng trên tờ Công báo những quy định liên quan tới việc cho phép nhập khẩu càphê vối. Nếu việc này được phép thì đây là lần đầu tiên quốc gia sản xuất càphê lớn nhất thế giới nhập khẩu nguyên liệu này.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,59

+0,74

+0,75%

Dầu Brent

USD/thùng

55,84

-0,82

-1,45%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

38.700,00

-400,00

-1,02%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,62

+0,03

+1,16%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

152,42

+1,09

+0,72%

Dầu đốt

US cent/gallon

163,89

+0,93

+0,57%

Dầu khí

USD/tấn

489,50

-12,25

-2,44%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

47.510,00

-340,00

-0,71%

Vàng New York

USD/ounce

1.237,20

+3,90

+0,32%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.486,00

-3,00

-0,07%

Bạc New York

USD/ounce

18,06

+0,03

+0,18%

Bạc TOCOM

JPY/g

65,10

-0,20

-0,31%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

18,06

+0,03

+0,18%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

65,10

-0,20

-0,31%

Đồng New York

US cent/lb

274,95

+0,35

+0,13%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.040,00

-20,00

-0,33%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.884,50

-1,50

-0,08%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.865,00

-10,00

-0,35%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.325,00

-475,00

-2,40%

Ngô

US cent/bushel

378,25

+1,75

+0,46%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

456,00

+6,25

+1,39%

Lúa mạch

US cent/bushel

252,75

+2,00

+0,80%

Gạo thô

USD/cwt

9,46

+0,03

+0,32%

Đậu tương

US cent/bushel

1.033,50

-3,75

-0,36%

Khô đậu tương

USD/tấn

339,50

-2,40

-0,70%

Dầu đậu tương

US cent/lb

33,00

+0,05

+0,15%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

523,50

+0,90

+0,17%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.995,00

-1,00

-0,05%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

150,90

-0,95

-0,63%

Đường thô

US cent/lb

20,68

-0,06

-0,29%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

173,85

-1,60

-0,91%

Bông

US cent/lb

75,49

-0,17

-0,22%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

375,20

+3,20

+0,86%

Cao su TOCOM

JPY/kg

290,00

+0,50

+0,17%

Ethanol CME

USD/gallon

1,54

+0,00

+0,13%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg