Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm do hoạt động bán ra mạnh khi các nhà đầu tư chốt lời.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 5/2018 giảm 0,87 USD xuống 64,3 USD/thùng, trong khi giá dầu Brent Biển Bắc giao cùng kỳ hạn giảm 0,56 USD xuống 68,91 USD/thùng.
Sau khi giá dầu thế giới đã chạm mức cao nhất trong vòng sáu tuần ở phiên trước đó (bởi Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho hay lượng dầu thô dự trữ của nước này bất ngờ giảm 2,6 triệu thùng xuống 428,31 triệu thùng trong tuần tính đến ngày 16/3), các nhà đầu tư bán ra vào phiên này để chốt lời. Lượng bán ra nhiều khiến giá giảm, song những nỗ lực cắt giảm sản lượng của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) đã phần nào hạn chế đà giảm trong phiên vừa qua.
Chứng khoán Mỹ giảm điểm sau thông báo của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc đánh thuế vào hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc cũng góp phần khiến giá dầu giảm.
Ngoài ra, lòng tin của giới đầu tư trên thị trường dầu mỏ cũng bị ảnh hưởng bởi thông tin về sản lượng dầu thô của Mỹ tăng lên mức kỷ lục 10,4 triệu thùng/ngày vào tuần trước, gần đuổi kịp mức sản lượng 11 triệu thùng/ngày của Nga.
Giá dầu tăng 2 tuần qua được thúc đẩy bởi đồng USD suy yếu và căng thẳng giữa Iran và Saudi Arabia, làm dấy lên lo ngại về nguồn cung dầu tại Trung Đông – vốn đã bị thắt chặt bởi kế hoạch cắt giảm sản lượng của các nước trong và ngoài OPEC.
Tháng 2 vừa qua, OPEC và các đồng minh của họ đã đạt 138% mức tuân thủ theo thỏa thuận giảm sản lượng, tăng từ 133% trong tháng 1 và cao nhất kể từ khi thỏa thuận bắt đầu vào tháng 1/2017, giúp cho lượng tồn trữ dư thừa giảm nhanh đồng thời đưa các nhà sản xuất gần tới mục tiêu ban đầu của thỏa thuận.
Mục tiêu ban đầu của thỏa thuận cắt giảm sản lượng để giảm tồn kho dầu thô tại các nước phát triển xuống mức trung bình 5 năm. Tồn kho trong tháng 2 cao hơn mức này 44 triệu thùng, gần với mục tiêu của OPEC.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng nhìn chung giảm do USD tăng từ mức thấp nhất 1 tháng khiến cho vàng trở nên đắt hơn đối với những nhà đầu tư nắm giữ các loại tiền tệ khác.
Giá vàng giao ngay giảm 0,3% xuống 1.328,21 USD/ounce, trong khi vàng giao tháng 4 tăng 5,9 USD hoặc 0,5% lên 1.327 USD/ounce.
Theo các nhà phân tích, trong ngắn hạn, giá vàng sẽ dao động trong biên độ hẹp, trước tác động từ nhiều chiều: căng thẳng địa chính trị hỗ trợ giá tăng, nhưng kinh tế Mỹ mạnh lên gây áp lực giảm giá kim loại quý này.
Nhà phân tích Simona Gambarini thuộc Capital Economics cho rằng nguy cơ xảy ra chiến tranh thương mại giữa Mỹ và các nền kinh tế khác là nhân tố tạo đà đi lên cho giá vàng trong ngắn hạn. Tuy nhiên, chính sách thắt chặt lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) lại gây áp lực giảm.
Fed mới đây đã quyết định tăng lãi suất chủ chốt thêm 25 điểm cơ bản, lên 1,5-1,75%, mức cao nhất trong một thập niên. Đây là lần tăng lãi suất đầu tiên của Fed trong năm 2018, dựa trên triển vọng tăng trưởng vững mạnh của nền kinh tế Mỹ. Động thái này của Fed không nằm ngoài tiên lượng của thị trường. Những dự đoán về khả năng Mỹ đẩy nhanh lộ trình nâng lãi suất đã khiến giá vàng thời gian gần đây đi xuống. Lãi suất của Mỹ cao hơn làm giảm nhu cầu đối với vàng - một loại tài sản không sinh lời.
Đối với kim loại công nghiệp, giá đồng giảm xuống mức thấp nhất 3 tháng do lo ngại về thuế quan của Mỹ đối với hàng nhập khẩu của Trung Quốc và khả năng xảy ra cuộc chiến thương mại, mặc dù đồng USD suy yếu đã hạn chế đà giảm. Giá đồng trên sàn giao dịch kim loại London giảm 0,3% xuống còn 6.774 USD/tấn.
Nhập khẩu đồng tinh chế của Trung Quốc năm 2018 dự báo sẽ giảm năm thứ 3 liên tiếp do sản lượng nội địa tăng và tiêu thụ suy giảm.
Đối với nông sản, giá cà phê arabica tăng 0,15 US cent tương đương 0,1% lên 1,19 USD/lb, trong khi robusta giảm 10 USD tương đương 0,6% xuống 1.742 USD/tấn. Robusta chịu áp lực giảm bởi dự báo Indonesia sẽ thu hoạch cà phê sớm vào tháng tới.
Trái với cà phê, giá đường tăng trên cả 2 sàn giao dịch, với đường thô tại New York tăng 0,1 US cent tương đương 0,8% lên 12,77 US cent/lb, trong khi đường trắng tại New York tăng 2,7 USD tương đương 0,8% lên 356,10 USD/tấn.
Việc thị trường nhận định Ấn Độ khó có thể xuất khẩu đường dư thừa ra thế giới khi giá chênh lệch lớn đã hậu thuẫn giá đường tăng trong những phiên gần đây.
Còn đối với mặt hàng cao su, giá vừa giảm xuống mức thấp nhất 1 tháng trong phiên vừa qua do đồng yên tăng mạnh mẽ và giá tại Thượng Hải giảm. Hợp đồng cao su giao tháng 8 trên sàn TOCOM tăng 0,3 JPY lên 187,3 JPY (1,77 USD)/kg. Tại Thượng Hải hợp đồng giao tháng 5 giảm 60 NDT xuống 12.130 NDT (1.916 USD)/tấn.
Dự trữ cao su tại Nhật Bản và Trung Quốc gia tăng trong bối cảnh nhu cầu vẫn yếu, và thỏa thuận hạn chế xuất khẩu bởi nhóm 3 nước xuất khẩu cao su hàng đầu thế giới sẽ hết hạn vào cuối tháng này.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

64,3

-0,87

-1,35%

Dầu Brent

USD/thùng

68,91

-0,56

-0,96%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

42.220,00

-320,00

-0,75%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,62

+0,00

+0,15%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

203,18

+2,22

+1,10%

Dầu đốt

US cent/gallon

201,00

+1,77

+0,89%

Dầu khí

USD/tấn

610,25

+3,75

+0,62%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57.980,00

-330,00

-0,57%

Vàng New York

USD/ounce

1.342,30

-9,10

-0,68%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.503,00

-15,00

-0,33%

Bạc New York

USD/ounce

16,47

+0,08

+0,51%

Bạc TOCOM

JPY/g

55,90

-0,30

-0,53%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

953,62

+4,88

+0,51%

Palladium giao ngay

USD/ounce

988,60

+3,75

+0,38%

Đồng New York

US cent/lb

299,50

-2,50

-0,83%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.695,00

-98,00

-1,44%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.075,00

-6,00

-0,29%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.203,00

-46,00

-1,42%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.850,00

-150,00

-0,71%

Ngô

US cent/bushel

376,75

+0,75

+0,20%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

457,75

+2,00

+0,44%

Lúa mạch

US cent/bushel

226,25

-2,50

-1,09%

Gạo thô

USD/cwt

12,31

-0,02

-0,16%

Đậu tương

US cent/bushel

1.033,00

+3,25

+0,32%

Khô đậu tương

USD/tấn

367.40

+2.90

+0.80%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32.32

-0.05

-0.15%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

520.70

-0.30

-0.06%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.535,00

+11,00

+0,44%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

119,00

+0,15

+0,13%

Đường thô

US cent/lb

12,77

+0,10

+0,79%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

136,00

-1,15

-0,84%

Bông

US cent/lb

82,08

-0,07

-0,09%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

484,80

+2,00

+0,41%

Cao su TOCOM

JPY/kg

176,60

-10,70

-5,71%

Ethanol CME

USD/gallon

1,48

+0,01

+0,68%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg