Trên thị trường năng lượng, giá dầu duy trì ở mức cao bởi lo ngại lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran có thể làm giảm nguồn cung dầu thô của nước này, cộng thêm khả năng Mỹ sẽ áp đặt lệnh trừng phạt bổ sung đối với Venezuela sau cuộc bầu cử Tổng thống của nước này.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 6/2018 giảm nhẹ 0,11 USD xuống 72,13 USD/thùng; dầu Brent giao tháng 7/2018 tăng 0,35 USD lên 79,57 USD/thùng.
Giá dầu thô hiện đang giao dịch quanh mức cao nhất kể từ cuối năm 2014, thời điểm thỏa thuận cắt giảm cung cấp trong các nước xuất khẩu dầu OPEC và Nga và các nước ngoài OPEC và nhu cầu tiêu thụ thế giới mạnh.
Chính phủ Mỹ đã áp dụng các biện pháp trừng phạt mới đối với Venezuela sau cuộc bầu cử Tổng thống Nicolas Maduro hôm Chủ nhật vừa qua, một động thái mà các nhà phân tích nói có thể kiềm chế hơn nữa sản lượng dầu của nước này vốn đã ở mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ. Lo ngại về khả năng sụt giảm xuất khẩu dầu của Iran sau khi Washington rút khỏi thỏa thuận hạt nhân với Tehran và mối đe dọa của lệnh cấm vận của Mỹ cũng đang hỗ trợ giá.
Tổng thống đắc cử Venezuela Nicolas Maduro đang vấp phải làn sóng chỉ trích và áp lực bị cô lập của nhiều nước sau khi tái đắc cử với tỷ lệ phiếu bầu đạt được là 67,7%, trong khi ứng cử viên đối lập đứng ngay sau là Henri Falcon chỉ đạt 21,2% số phiếu ủng hộ. Sáu nước tham gia Hội nghị Ngoại trưởng Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) là Mỹ, Canada, Australia, Argentina, Chile và Mexico ngày 21/5 đã ký một tuyên bố chung không thừa nhận kết quả cuộc bầu cử Tổng thống tại Venezuela do cho rằng cuộc bầu cử tại Venezuela đã loại bỏ các thành phần chính trị cốt yếu, không có sự tham gia của các quan sát viên quốc tế độc lập và không có sự đảm bảo cần thiết để tiến trình này được công nhận. Điều này càng khiến quốc gia Nam Mỹ này phải đối mặt thêm với nhiều khó khăn, giữa bối cảnh sản lượng dầu mỏ của Venezuela đã giảm 1/3 trong hai năm qua, xuống mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ.
Trên thị trường kim loại quý, giá đồng loạt vững đến tăng. Vàng giao ngay giá vững ở mức 1.292,51 USD/ounce, trong khi đó vàng giao tháng 6/2018 tăng 0,1% (1,1 USD) lên khép phiên ở mức 1.292 USD/ounce. Với các kim loại quý khác, giá cũng tăng sau khi Trung Quốc cho biết nước này sẽ cắt giảm thuế nhập khẩu áp lên xe ô tô con cùng phụ tùng từ ngày 1/7 tới. Giá bạc tăng 0,5% lên 16,57 USD/ounce, sau khi đã có lúc chạm mức cao nhất trong tám phiên là 16,67 USD/ounce; giá bạch kim cũng tăng thêm 1,3% lên 908 USD/ounce, trước đó vào đầu phiên, kim loại quý này đã tăng lên mức cao nhất trong một tuần là 910,9 USD/ounce.
Chỉ số USD – được coi là thước đo "sức khỏe" của đồng bạc xanh so với các đồng tiền chủ chốt khác – phiên này giảm 0,06% xuống 93,525. lợi suất trái phiếu của Mỹ tăng và triển vọng giải quyết căng thẳng thương mại Mỹ-Trung Quốc. USD yếu hơn khiến cho vàng có giá rẻ hơn đối với các nhà đầu tư bên ngoài nước Mỹ.
Washington và Bắc Kinh đều tuyên bố thắng lợi trong ngày đầu tuần khi hai nền kinh tế lớn nhất thế giới bước lùi khỏi bờ vực của một cuộc chiến thương mại và thống nhất tổ chức các cuộc đàm phán hơn nữa để thúc đẩy xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc.
Các nhà đầu tư cũng đang chờ đợi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) công bố biên bản cuộc họp vào ngày 23/5 nhằm tìm kiếm những chỉ dấu về tiến trình tăng lãi suất của ngân hàng trung ương này. Giá vàng luôn nhạy cảm với các động thái điều chỉnh lãi suất của Mỹ, bởi lãi suất tăng sẽ giúp đồng USD mạnh lên song lại khiến sức hấp dẫn của các tài sản không sinh lời như vàng giảm đáng kể.
Theo chuyên gia Philip Newman thuộc công ty tư vấn đầu tư trên thị trường kim loại quý Metals Focus, với những lo ngại về các khoản nợ của nước Mỹ cũng như cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11 tới, đồng USD có thể yếu đi và giá vàng sẽ phục hồi vào khoảng cuối năm nay.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá chì đạt mức cao nhất 2 tháng rưỡi do lo ngại nguồn cung thiếu hụt và các nhà đầu tư bán kẽm và mua chì. Việc kiểm tra môi trường tại các lò luyện kim phụ ở Trung Quốc đã gây giảm cung trong những tháng gần đây. Chốt phiên giao dịch giá chì tại LME tăng 2% đạt 2.458 USD/tấn. Trong khi tại Thượng Hải, giá chì tăng 3,6% lên mức cao nhất kể từ tháng 10 đạt 20.465 NDT/tấn.
Giá đồng kỳ hạn 3 tháng đã tăng 1,5% lên mức 6,979 USD/tấn sau khi chạm mức 6,999 USD, mạnh nhất kể từ 26/4. Giá đồng đã được hỗ trợ nhờ hoạt động mua vào ở Viễn Đông và các quỹ Tư vấn Thương mại Hàng hóa (CTA). Giá đồng cũng được hỗ trợ bởi sự cố tại lò luyện kim ở miền nam Ấn Độ, nơi ít nhất chín người thiệt mạng sau khi cảnh sát bắn vào những người biểu tình kêu gọi đóng cửa nhà máy.
Giá nickel tăng 0,7% lên 14.780 USD/tấn. Giá nhôm giảm 0,4% đóng cửa ở mức 2.270 USD/tấn trong khi giá thiếc giảm 0,8% xuống 20.530 USD. Giá kẽm chốt phiên giao dịch giảm 1,6% xuống còn 3.056 USD/tấn.
Giá thép giảm phiên thứ 3 liên tiếp xuống mức thấp nhất gần một tháng do lo ngại nhu cầu suy yếu trong khi nguồn cung mạnh mẽ. Giá thép cây kỳ hạn tại Thượng Hải giảm 1,1% xuống mức 3,573 NDT (560,38 USD)/tấn. Đầu phiên giao dịch, giá rơi xuống mức thấp nhất kể từ ngày 27/4 là mức 3.556 NDT. Sản lượng thép thô hàng ngày của các công ty thép lớn trong 10 ngày đầu tháng 5 đạt 1,94 triệu tấn, cao hơn mức đỉnh trước đó là 1,91 triệu tấn đạt được vào cuối tháng 4/2018, theo số liệu từ Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc (CISA). Con số này tăng gần 8% so với cùng kỳ năm ngoái. Lượng thép tồn kho tại các nhà máy thép cũng tăng trong thời gian này, tăng 1,17 triệu tấn lên 13,61 triệu tấn do nhu cầu tiêu thụ yếu.
"Tăng trưởng tiêu thụ thép ở Trung Quốc dự kiến chậm lại trong các quý tới do nhu cầu từ các ngành xây dựng, cơ sở hạ tầng và ô tô chậm lại", BMI Research dự kiến. Nhu cầu tiêu thụ thép đang giảm dần có thể sẽ ảnh hưởng đến tiêu thụ nguyên liệu thô, các nhà phân tích cho biết.
Giá quặng sắt giao tháng 9 trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên đã chạm mức 453 NDT/tấn, mức thấp nhất trong 5 tuần, trước khi đóng cửa giảm 2,6% xuống 456 NDT/tấn. Giá thép giao ngay giảm 0,1% xuống 4.311,86 NDT/tấn vào ngày đầu tuần.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 7 tăng 0,65 US cent tương đương 0,5% lên 1,2085 USD/lb, trong khi robusta giao cùng kỳ hạn giảm 5 USD tương đương 0,3% xuống 1.790 USD/tấn.
Sản lượng cà phê của Brazil niên vụ 2018-19 (bắt đầu từ đầu tháng 7/2018) dự kiến sẽ cao kỷ lục 60,2 triệu bao loại 60 kg/bao, tăng 18% so với niên vụ trước, trong bối cảnh nhà sản xuất cà phê lớn nhất thế giới sẽ đạt năng suất cao nhất từ trước tới nay. Thời tiết thuận lợi tốt hỗ trợ các khu vực trồng cây ra hoa trái, nhất là vùng trồng cà phê robusta. Thêm vào đó, phần lớn các cây cà phê arabica đang trong chu kỳ phát triển hai năm một lần, góp phần nâng cao sản lượng thu hoạch. Năng suất thu hoạch cà phê của Brazil trong niên vụ 2018-19 dự kiến đạt mức kỷ lục 29,2 bao/ha, tăng so với mức tương ứng 25,2 bao/ha trong niên vụ hiện thời.
Sản lượng cà phê robusta của nước này dự báo đạt 15,7 triệu bao, tăng so với mức 12,4 triệu bao của niên vụ 2017-18. Trong khi sản lượng cà phê arabica ước tăng từ 35,3 triệu bao trong niên vụ hiện nay lên 44,5 triệu bao. Xuất khẩu cà phê của Brazil trong niên vụ tới dự kiến đạt 35,3 triệu bao, tăng 16% so với niên vụ trước đó.
Đường thô kỳ hạn tháng 7 đã tăng 0,05 cent, tương đương 0,4%, đạt mức 12,15 cent/lb, sau khi tăng lên 12,29 cent, mức cao nhất kể từ ngày 13/4; đường trắng kỳ hạn tháng 8 tăng 3 USD, tương đương 0,9%, đạt mức 343 USD/tấn. Có tin chính phủ Ấn Độ có thể xây dựng kho dự trữ, điều này có thể dẫn tới hạn chế xuất khẩu đường ra thị trường thế giới. Dự kiến Ấn Độ sẽ xuất khẩu tới 3 triệu tấn trong giai đoạn 2017-18.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

72,13

-0,11

-0,17%

Dầu Brent

USD/thùng

79,57

+0,35

+0,42%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

51.220,00

-310,00

-0,60%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,90

-0,01

-0,28%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

225,59

-1,43

-0,63%

Dầu đốt

US cent/gallon

227,19

-0,81

-0,36%

Dầu khí

USD/tấn

695,75

-6,75

-0,96%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

68.650,00

-350,00

-0,51%

Vàng New York

USD/ounce

1.293,70

+1,70

+0,13%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.584,00

-9,00

-0,20%

Bạc New York

USD/ounce

16,60

+0,02

+0,12%

Bạc TOCOM

JPY/g

58,80

+0,20

+0,34%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

906,35

-0,96

-0,11%

Palladium giao ngay

USD/ounce

992,05

0,00

0,00%

Đồng New York

US cent/lb

312,55

-0,65

-0,21%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.979,00

+100,00

+1,45%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.270,00

-10,00

-0,44%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.056,00

-48,00

-1,55%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.530,00

-170,00

-0,82%

Ngô

US cent/bushel

405,50

+0,75

+0,19%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

523,75

+2,25

+0,43%

Lúa mạch

US cent/bushel

250,00

+0,25

+0,10%

Gạo thô

USD/cwt

12,33

+0,10

+0,82%

Đậu tương

US cent/bushel

1.028,25

-2,25

-0,22%

Khô đậu tương

USD/tấn

377,50

0,00

0,00%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,51

0,00

0,00%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

532,70

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.589,00

-26,00

-0,99%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

120,85

+0,65

+0,54%

Đường thô

US cent/lb

12,15

+0,05

+0,41%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

168,55

+1,10

+0,66%

Bông

US cent/lb

86,95

-0,40

-0,46%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

594,00

-15,00

-2,46%

Cao su TOCOM

JPY/kg

196,80

-2,20

-1,11%

Ethanol CME

USD/gallon

1,52

+0,01

+0,46%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg