Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm mạnh sau khi Saudi Arabia thông báo có thể cung ứng thêm dầu nhanh chóng nếu cần thiết.
Kết thúc phhiên giao dịch, dầu Brent Biển Bắc giảm 4,3% (3,39 USD) xuống 76,44 USD/thùng trước đó có lúc giảm 5% xuống 75,88 USD/thùng, mức thấp nhất kể từ ngày 7/9/2018; dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giảm 2,93 USD xuống 66,43 USD/thùng sau khi có thời điểm mất 5,2% xuống 65,74 USD/thùng - mức thấp nhất kể từ ngày 20/8. Cả hai hợp đồng dầu chủ chốt này đều ghi nhận mức giảm lớn nhất kể từ tháng Bảy. Ngưỡng 65 USD/thùng là mốc tâm lý quan trọng, nếu WTI xuống dưỡi ngưỡng này thì có thể gây ra một đợt bán ra mang tính kỹ thuật.
Thị trường dầu mỏ chịu tác động bởi hoạt động bán tháo cổ phiếu trên thị trường chứng khoán khắp các châu lục làm dấy lên những lo ngại về mức tăng nhu cầu tiêu thụ dầu thế giới trong bối cảnh Saudi Arabia cho biết nước này có thể cung ứng thêm dầu nhanh chóng nếu cần thiết.
Phát biểu tại một hội thảo ở Riyadh, Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia Khalid al-Falih khẳng định thị trường dầu đang trong “trạng thái tốt” và ông hy vọng các nhà sản xuất dầu vào tháng 12 tới sẽ ký một thỏa thuận gia hạn hợp tác để giám sát và bình ổn thị trường. Bộ trưởng Falih cho biết thêm Saudi Arabia sẽ hành động nếu có bất kỳ sự gián đoạn nguồn cung nào, nhất là khi lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran đang đến gần. Bộ trường Falih cũng không loại trừ khả năng Saudi Arabia trong tương lai có thể bơm thêm 1-2 triệu thùng dầu/ngày so với mức hiện nay.
Bên cạnh đó, các chuyên gia phân tích của ngân hàng UBS dự báo mức tăng nhu cầu dầu sẽ dịu xuống 1,2 triệu/thùng trong năm 2019, do giá cao cao và tăng trưởng kinh tế kém khả quan.
Lượng dầu dự trữ tại các kho ở Mỹ đã tăng 9,9 triệu thùng trong tuần trước lên 418,4 triệu thùng, cao hơn nhiều so với dự báo tăng 3,7 triệu thùng mà các chuyên gia phân tích dự đoán. Ngoài ra, sản lượng dầu thô của Mỹ đã tăng gần 30% kể từ giữa năm 2016, sản lượng dầu của Nga hiện cũng cao hơn 150.000 thùng/ngày so với tháng 10/2016. Tất cả những điều đó có thể giúp bù đắp nguồn cung thiếu hụt từ Iran.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng khoảng 1% lên mức cao nhất trong hơn ba tháng do đồng USD yếu đi và các thị trường chứng khoán toàn cầu mất điểm.
Kết thúc phiên vừa qua, giá vàng giao ngay tăng 1% lên 1.233,21 USD/ ounce, sau khi có lúc lên mức cao nhất kể từ ngày 17/7/2018 là 1.239,68 USD/ ounce; vàng giao sau cũng tăng 0,9% lên mức 1.236,1 USD/ounce.
Chỉ số chứng khoán toàn cầu MSCI phiên vừa qua có lúc giảm 2% xuống mức thấp nhất kể từ tháng 9/2017 bởi nhà đầu tư thất vọng về lợi nhuận của các công ty, lo ngại về cuộc khủng hoảng ngoại giao của Saudi Arabia và về bất đồng liên quan đến ngân sách Italia. Các bất ổn chính trị và kinh tế gia tăng đã góp phần làm tăng thêm sức hấp dẫn của vàng.
Chỉ số đồng USD - thước đo về sức mạnh của đồng bạc xanh so với rổ các đồng tiền khác - hạ 0,21% xuống 95,83 (điểm).
Theo Edward Meir, chuyên gia phân tích tại INTL FC Stone, cần dõi theo biến động của các thị trường chứng khoán để nhận định về giá vàng. Nếu chứng khoán tiếp tục giảm điểm như hiện tại thì giá vàng sẽ đi lên. Giá vàng đã tăng hơn 6% sau khi hồi giữa tháng Tám vừa qua đã giảm xuống 1.159,96 USD/ ounce - mức “đáy” kể từ tháng 1/2017.
Ross Strachan, chuyên gia phân tích tại Capital Economics, cho rằng thị trường đang chứng kiến nhiều diễn biến liên quan đến Saudi Arabia và Nga cùng với tình hình căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc. Những yếu tố trên tác động tiêu cực đến chứng khoán do đó hỗ trợ cho giá vàng.
Về những kim loại quý khác, giá palađi tăng 1,8% lên mức cao 1.141,49 USD/ounce, bạc tăng 0,8% lên 14,72 USD/ounce, trong khi bạch kim tăng 1,6% lên 832,8 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng giảm do lo ngại nhu cầu ở Trung Quốc chậm lại và do căng thẳng địa chính trị leo thang liên quan đến vụ nhà báo Saudi Arabia bị sát hại. Đồng giao sau 3 tháng trên sàn London giảm 0,7% xuống 6.196 USD/tấn.
Các nhà đầu tư không thực sự bị thuyết phục bởi những kế hoạch kích thích kinh tế mà Chính phủ Trung Quốc vừa đưa ra như giảm thuế hay hỗ trợ thị trường chứng khoán. Nhiều người tỏ ra hoài nghi về tính hiệu quả của những kế hoạch này.
Giá thép cây trên sàn Thượng Hải tăng do nhu cầu mạnh. Hợp đồng thép cây tăng 0,2% lên 4.142 CNY (597,03 USD)/tấn. Tồn trữ các sản phẩm thép của các thương gia Trung Quốc đã giảm 370.000 tấn xuống 10,3 triệu tấn trong tuần tới 19/10/2018, trong đó tồn trữ thép cây giảm 6,4% xuống 4,12 triệu tấn, trong khi tồn trữ thép cuộn cán nóng tăng 0,8% lên 2,4 triệu tấn.
Nhu cầu thép trong ngắn hạn tại Trung Quốc dự báo sẽ tiếp tục vững, nhờ lĩnh vực xây dựng đang tăng trưởng tốt. Tuy nhiên, hoạt động xây dựng ở miền Bắc nước này thường chậm lại vào mùa Đông do thời tiết quá lạnh.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica tăng trong phiên vừa qua, lấy lại gần hết những gì đã mất ở phiên trước đó. Arabica giao tháng 12/2018 tăng 3,45 US cent tương đương 2,9% lên 1,211 USD/lb (phiên trước giảm 3,6%, mức giảm mạnh nhất trong vòng 2 tháng). Một số nhà đầu tư tiến hành mua vào khi thấy giá giảm trong phiên trước, và đồng nội tệ Brazil tăng lên cũng góp phần đẩy giá arabica tăng. Tuy nhiên, robusta vẫn giảm, với hợp đồng giao tháng 1/2019 giảm 2 USD tương đương 0,1% xuống 1.719 USD/tấn.
Cacao giảm khi Tây Phi đang trong vụ thu hoạch. Tại New York giá giảm 33 USD tương đương 1,5% xuống 2.187 USD/tấn, trong khi tại London giảm 12 USD tương đương 0,7% xuống 1.629 GBP/tấn.
Đường thô giao tháng 3 năm sau giảm 0,01 US cent tương đương 0,1% xuống 13,81 US cent/lb, là phiên giảm thứ 2 liên tiếp sau khi tăng 6,3% trong tuần qua; tuy nhiên đường trắng giao tháng 12 tới tăng 3,5 USD tương đương 0,9% lên 380,50 USD/tấn.
Có một số yếu tố đang hỗ trợ thị trường đường, đó là triển vọng sản lượng giảm ở Brazil và Liên minh châu Âu cũng như đồng real Brazil tăng giá. Công ty tư vấn Datagro ở Sao Paulo vừa đưa ra dự báo thị trường đường thế giới năm 2018/19 sẽ thiếu hụt, hoàn toàn trái ngược với dự báo là dư thừa trong báo cáo gần đây nhất.

 

Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

66,43

-2,93

 

Dầu Brent

USD/thùng

76,44

-3,39

-4,25%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

51.550,00

-1.850,00

-3,46%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,22

+0,01

+0,25%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

183,53

-0,15

-0,08%

Dầu đốt

US cent/gallon

224,75

-0,09

-0,04%

Dầu khí

USD/tấn

697,25

-13,75

-1,93%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

67.390,00

-1.940,00

-2,80%

Vàng New York

USD/ounce

1.234,60

-2,20

-0,18%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.436,00

+21,00

+0,48%

Bạc New York

USD/ounce

14,79

-0,01

-0,05%

Bạc TOCOM

JPY/g

53,00

+0,50

+0,95%

Bạch kim

USD/ounce

833,05

+0,36

+0,04%

Palađi

USD/ounce

1.143,30

-0,90

-0,08%

Đồng New York

US cent/lb

276,30

+0,50

+0,18%

Đồng LME

USD/tấn

6.196,00

-46,00

-0,74%

Nhôm LME

USD/tấn

2.001,00

-6,00

-0,30%

Kẽm LME

USD/tấn

2.669,00

+13,00

+0,49%

Thiếc LME

USD/tấn

19.300,00

+75,00

+0,39%

Ngô

US cent/bushel

370,25

+0,75

+0,20%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

509,00

+1,00

+0,20%

Lúa mạch

US cent/bushel

297,00

+1,50

+0,51%

Gạo thô

USD/cwt

11,03

0,00

-0,05%

Đậu tương

US cent/bushel

871,00

-1,50

-0,17%

Khô đậu tương

USD/tấn

310,70

-2,10

-0,67%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,76

-0,39

-1,34%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

496,30

-3,30

-0,66%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.187,00

-33,00

-1,49%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

121,10

+3,45

+2,93%

Đường thô

US cent/lb

13,81

-0,01

-0,07%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

137,50

+0,25

+0,18%

Bông

US cent/lb

78,99

-1,03

-1,29%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

314,30

-5,70

-1,78%

Cao su TOCOM

JPY/kg

167,20

+0,10

+0,06%

Ethanol CME

USD/gallon

1,29

+0,00

+0,16%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg